| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| This place was deleted, it will be removed from all search engines in few weeks. NHA KHACH TOA TGM HANOIThay Ban
NHÂN ĐỌC VÀI BẢN TIN TRÊN VIETCATHOLIC Trần Chung Ngọc Một bản tin cũ mà tôi đọc là về sắc lệnh của Tòa Thánh năm 2003 quyết định “tuyệt thông” 7 nữ nhân bất chấp Tòa Thánh, nhận phong chức Linh mục, trái với “giáo lý chân chính” của Giáo hội là “Người Nữ không được làm Linh mục” do Đức Ông Nguyễn Quang Sách viết.. Bản tin mới gần đây, ngày 29 tháng 5, 2008, là về “sắc lệnh đe dọa rút phép thông công ngay lập tức với những ai truyền chức linh mục cho giới nữ, và những phụ nữ được truyền chức linh mục”, do Đức Long viết. Bản tin thứ ba mới đây mà tôi đọc là về một văn kiện của Vatican ngày 28 tháng 5, 2008, nhấn mạnh sự quan trọng của “đức vâng lời” trong Ca-tô Giáo, và bản tin thứ tư là trong cuộc hội nghị của các giám mục Ý, Giáo hoàng Benedict XVI cho rằng các chính quyền dân chủ nên hỗ trợ và tài trợ cho các trường học Ca-tô. Tôi sẽ lần lượt có vài bình luận ngắn về những bản tin này. Trước hết xin mời quý độc giả đọc 2 bản tin đầu về sắc lệnh tuyệt thông. I Một hành động cần thiết bảo vệ Giáo lý và Hướng dẫn các Lương tâm VATICAN 27/1/2003 (Zenit.org).-Tòa Thánh đã phổ biến một sắc lệnh xác nhận vạ tuyệt thông cho một số người nữ đã tham gia trong một cuộc phong chức giả vờ linh mục tháng Sáu vừa qua. Văn kiện của Bộ Giáo lý Đức tin loan báo rằng Tòa Thánh đã đã bác bỏ khiếu nại do các người nữ này nêu lên đối với sắc lệnh tuyệt thông, được bộ Vatican phổ biến hôm 5/8 vừa qua. Hơn nữa, Tòa Thánh xem "việc từ chối tuân phục lệnh phạt do Giáo hội thiết lập" lại dược gia trọng hơn nữa bởi sự kiện một số những người nữ nói trên đã tập hợp quanh mình những thành phần tín hữu, trong một cuộc chống đối công khai và gây chia rẽ đối với Đức Giáo Hoàng và các giám mục giáo phận." Văn kiện nói thêm: " Trườc sự nặng nề của sự bướng bỉnh này (x. can 1347 CIC), hình phạt áp đặt không những là đúng đắng, mà còn cần thiết, hầu bảo vệ giáo lý chân chính, bảo tồn sự hiệp thông và hệp nhất của Giáo hội, và hướng dẫn lương tâm người tín hữụ" Sắc lệnh, đề ngày 21/12/2002 và hôm nay mới phổ biến, được ký do Hồng Y Joseph Ratzinger và Tổng Giám mục Tarcisio Bertone, chủ tịch và thư ký của Bộ Giáo Lý Ðức Tin Sắc lệnh đã được phê chuẩn bởi 13 Hồng Y và hai Giám Mục đang phục vụ tại Rome và là thành viên của các bộ tại Vatican. Đức Gioan Phaolô II đã chấp thuận sắc lệnh cách công khai và yêu cầu phổ biến. Chủ xướng việc phong chức là người Argentine tên Romulo Antonio Braschi, một giám mục ly khai và là sáng lập viên của một cộng đồng ly khai. Sắc lệnh chỉ rõ rằng những người nữ, có quốc tịch Đức, Áo và Huê kỳ, đã tham gia vào việc phong chức giả mạo này là Christine Mayr-Lumetzberger, Adelin de Theresia Roitinger, Gisela Fortsrer, Iris Muller, Ida Raming, Pia Brunner và Dagmar Braun Celeste. Người sau này dùng tên Angela White trong dịp này là người Hoa Kỳ nguyên là vợ của cựu Thống Ðốc bang Ohio. Trong tông thư năm 1994 "Ordinatio Sacerdotalis--phong chức linh mục--," Đức Gioan Phaolo II nói "Giáo hội không có bất cứ quyền bính nào để phong chức linh mục cho người nữ." Ðức Ông Nguyễn Quang Sách Toà Thánh nói sẽ rút phép thông công đối với những ai truyền chức linh mục cho phụ nữ VietCatholic News (Thứ Năm 29/05/2008 16:32) . Vatican- Thứ năm ngày 29/05/08, Toà Thánh phổ biển một sắc lệnh đe dọa rút phép thông công ngay lập tức với những ai truyền chức linh mục cho giới nữ, biện pháp này cũng sẽ liên quan đến những phụ nữ được truyền chức linh mục. Sắc lệnh của Bộ giáo lý đức tin, được phổ biến trên báo Toà Thánh, quan sát viên Roma cho biết rằng « sắc lệnh sẽ có ảnh hưởng đến việc truyền chức thánh cho phụ nữ, vì chị em nào dám lãnh nhận chức linh mục, sẽ có nguy cơ bị rút phép thông công ngay lập tức ». Việc truyền chức linh mục cho phụ nữ thường là câu chuyện kinh niên. Năm 2002, bảy chị em phụ nữ công giáo, gồm phụ nữ nước Đức, Áo, Hoa Kỳ được truyền chức linh mục trong một cộng đoàn được thành lập năm 1975 tại Bunos Aires, do một cựu linh mục công giáo ở Romula Antonio Braschi. Toà Thánh rút phép thông công họ chỉ vài tuần sau khi được truyền chức, và cho rằng họ đã phạm « một tội nghiêm trọng đối cơ cấu thiên tính của Giáo Hội ». ĐGH Gioan Phalô II, vị tiền nhiệm ĐGH Beneđictô XVI, đã tái khẳng định năm 1994 lập trường của Giáo Hội công giáo, ngài giải thích rằng Giáo Hội không có quyền truyền chức linh lục cho phụ nữ. Đối với Roma đây là một chủ đề tiếp tục sự chia rẽ với Giáo Hội Anh giáo. Giáo Hội Anh Giáo cho phép nữ giới được làm linh mục. Đức Long * Bình luận của TCN: Tuyệt thông hay rút phép thông công là hình phạt của Giáo hội Ca-tô áp dụng đối với các con chiên ghẻ không tuân phục và vâng lời giáo hội. Hình phạt này có nghĩa là những người bị phạt không còn quyền hưởng các “bí tích” trong Ca-Tô Giáo Rô Ma, và do đó Giáo hội không cho họ hiệp thông với Chúa của họ. Đối với những tín đồ thấp kém, nhẹ dạ, cả tin, "tuyệt thông" hay "rút phép thông công" là một vũ khí hù dọa hữu hiệu, vì họ đã được nhồi vào đầu từ khi còn nhỏ là muốn hiệp thông với Chúa thì phải đi qua các trung gian như Linh mục, Giám mục, Giáo hoàng hay "Tòa Thánh". Nhưng đối với giới trí thức, ngay cả trong giáo hội, thì đó chỉ là một biện pháp hù dọa đáng khinh, vì nó vô giá trị, vô nghĩa, lỗi thời, và nhất là dựa vào một quyền lực tự phong, không có một căn bản nào có thể thuyết phục được những người có đầu óc. Thật vậy, trong cuốn Thượng đế Chưa Chết: Từ Sự Sợ Hãi Tôn Giáo Đến Sự Tự Do Tâm Linh (God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom), Linh Mục James Kavanaugh đã vạch rõ cho chúng ta thấy bản chất và ý nghĩa của Hình Phạt Hù Dọa Tuyệt Thông Của Tòa Thánh, trang 39-40: Tôi thấy khó mà có thể tin được là trong thời đại kỹ thuật không gian này mà một đoàn thể tôn giáo (Ca-Tô giáo Rô-ma. TCN) lại có thể quá lỗi thời để tin rằng một hình phạt thuộc loại huyền thoại như vậy vẫn còn có ý nghĩa gì đối với con người. ...Tuyệt thông, trong nhiều thế kỷ, đã là vai trò của giới quyền lực đóng vai Thượng đế . Đó là sự chối bỏ sự tự do suy tư của con người một cách vô nhân đạo và phi-Ki-tô. Nhưng nhất là, nó đã là nỗ lực điên cuồng của một quyền lực, vì quá lo sợ mất đi quyền lực của mình, nên phải kiểm soát tín đồ thay vì hướng dẫn họ đi tới một tình yêu thương tự do và trưởng thành. Tuyệt thông toan tính biến sự thực chứng tôn giáo thành một trại huấn luyện quân sự trong đó sĩ quan phụ trách nhào nặn lên những người máy trung thành bằng cách làm chúng ngạt thở bởi giam hãm và sỉ nhục. Có thể những phương pháp này có nghĩa trong việc huấn luyện con người để chiến đấu ngoài mặt trận. Những phương pháp này thực là trẻ con và bất lương khi xử lý với sự liên hệ của con người đối với Thượng đế; nhưng thật không thể tin được là chúng vẫn còn tồn tại. (I found it hard to believe that in the age of space technology a religious body could be so out of touch as to believe such a mythological penalty could have any meaning left for man. ...Excommunication had for centuries been authority's way of playing God. It was the inhuman and unchristian denial of man's freedom of conscience. But most of all it had been a deeply frigtened authority's frantic effort to dominate and control men and woman rather than to direct them toward a free and mature love. Excommunication attempted to turn the religious experience into a boot camp where the officer in charge aspires to build loyal robots by smothering them with confinement and indignity. Perhaps such methods might have had meaning in preparing man for combat. They are only childish and dishonest in dealing with a man or woman's relationship with God, but incredulously they still exist.) II Tòa Thánh muốn con chiên phải tiếp tục nhắm mắt nhắm mũi vâng lời bề trên trong cấu trúc quyền lực tự tạo của Giáo hội Ca-tô Rô-ma: Catholic World News VietCatholic News (Thứ Bảy 31/05/2008 06:46) VATICAN (Zenit.org).- Văn kiện 50 trang do Tòa ThánhVatican phát hành khẳng định Đức vâng lời trong đời sống tu sĩ là một cuộc hành trình trong sự tìm kiếm Chúa, nhắm trở nên ý thức về ý định tình yêu của Người. Bộ Tu Sĩ và Tu Hội Đời phát hành hôm thứ Tư 28/5 một tập cẩm nang 50 trang với tiêu đề: “Sự Phục Vụ của Uy Quyền và Đức Vâng Lời.” Tập hướng dẫn này được trình bày sáng nay trong một đại hội của các vị Bề Trên Dòng Nam và Nữ được tổ chức tại Salesianum, Roma. Một thông cáo do bộ phổ biến tường thuật: “Trước hết, bản văn xem xét chủ đề đức vâng lời tu sĩ, gốc của nó được thấy trong sự tìm kiếm Chúa và ý muốn của Chúa là điều đặc biệt đối với những tín hữu. […] Đức vâng lời Kitô hữu và tu sĩ, như vậy, không xuất hiện đơn giản như sự thực hiện những luật và những quyết định giáo hội hay tu sĩ, nhưng như động lượng của một cuộc hành trình trong sự tìm kiếm Chúa, tức là nghe Lời Người và trở nên ý thức đối với quyết định của Người về tình yêu—sự kinh nghiệm căn bản của Chúa Kitô, Đấng, vì tình yêu, đã vâng lời cho tới chết trên thập giá. “Uy Quyền trong đời sống tu sĩ phải được hiểu trong ánh sáng này, nói cách khác, như một phương cách để giúp cộng đồng—hay là viện --tìm kiếm và hoàn thành ý muốn của Chúa. Như vậy, đức vâng lời không được biện minh trên nền tảng của uy quyền tu sĩ, bởi vì mọi người trong một cộng đồng tu sĩ—trước hết và chính những uy quyền—được kêu gọi phải vâng lời. Uy quyền tự đặt mình phục vụ trong cộng đồng ngõ hầu ý muốn của Chúa sẽ có thể được tìm kiếm và hoàn thành chung.” Thông cáo đã lưu ý vấn đề uy quyền tu sĩ sẽ được đặt trong bối cảnh của một “sự dấn thân vâng lời được chia sẻ nổi bật.” Những khó khăn Sự hướng dẫn cũng xem xét: vấn đề tế nhị của ‘sự vâng lời khó’, tức là trong đó điều được đòi buộc với một tu sĩ là đặc biệt khó thi hành, hay là trong đó chủ sự cảm giác mình thấy ‘những sự tốt và ích lợi cho linh hồn mình hơn là những sự bề trên lệnh cho mình phải làm,’ “ thông cáo nói thêm. “Trích từ một văn bản còn thích đáng của Đức Phaolô VI, văn kiện cũng viết về sự có thể có những ‘thắc mắc lương tâm’ trong chủ thể phải vâng lời.” Thông cáo nói tiếp: “Tập hướng dẫn tìm kiếm nhắc nhở, hơn hết đức vâng lời trong đời sống tu sĩ có thể làm nẩy sinh những lúc khó khăn, những tình huống đau khổ trong đó cần phải qui chiếu về Đấng Vâng Lời tuyệt hảo, Chúa Kitô. […]Hơn nữa, phải nhớ rằng uy quyền cũng có thể gặp ‘khó,’ vì gặp những lúc ngã lòng và mệt nhọc có thể dẫn tới sự từ chức hay là không chú tâm vào việc thi hành một sự hướng dẫn thích hợp […] của cộng đồng. “Sự qui chiếu về lương tâm giúp người ta coi sự vâng lời không hẵn là một sư thi hành những mệnh lệnh cách thụ động và vô trách nhiệm, nhưng là một sự nhận lấy cách ý thức những cam kết […], vì đó là một sự thúc đẩy thật sự do ý muốn của Chúa.” “Nếu văn kiện chứa đựng một lời khuyên vâng lời cách thanh thản và vì đức tin, văn kiện cũng hiến một loạt rộng rải và cố kết các chỉ dẫn cho việc thực thi uy quyền, “ như “mời người ta nghe, ủng hộ sự đối thoại, sự chia sẻ, đồng trách nhiệm, […] và việc đối xử đầy lòng thương xót những kẻ “ được giáo phó cho uy quyền, thông cáo nói thêm. Sự hướng dẫn này, tuyên bố đó kết luận, “lưu ý đặc biệt về cộng đồng tu sĩ như một nơi trong đó, dưới sự hướng dẫn của bề trên, một hình thức’ sáng suốt cộng đồng’ phải được thực thi trong việc lấy quyết định. Việc thực thi này, đối với việc thi hành mà những gợi ý quan trọng được cống hiến, không loại trừ vai trò của uy quyền.[…]Và không nên quên rằng, theo truyền thống xa xưa, uy quyền cao nhất trong những viện tu sĩ thuộc tổng tu nghị—hay là một thể chế tương tự—đó là một đội tập đoàn.” Đ.Ô Nguyễn Quang Sách Catholic World News VietCatholic News (Thứ Tư 28/05/2008 15:39) VATICAN - The Vatican has issued a new document underlining the importance of obedience in religious life. Entitled "The Service of Authority and Obedience," the 50-page document from the Congregation for Religious takes the form of an Instruction. It was presented to the superiors of male and female religious orders on May 28 at an assembly held in the Salesianum in Rome. Obedience, the Vatican document says, should be understood by religious as "a way to help the community or institute to seek and achieve the will of God." The basis for religious obedience, the Instruction notes, is found "in that search for God and for his will which is particular to believers." In offering their obedience, religious imitate "the fundamental experience of Christ Who, out of love, was obedient unto his death on the Cross." The document from the Congregation for Religious explicitly takes up the question of "difficult obedience," which arises when the individual religious finds the superior's directions "particularly hard to carry out." It also considers situations in which the superior's orders might cause conflicts in the individual's conscience. Obedience can "give rise to difficult moments," the Vatican document acknowledges. Nevertheless the Instruction observes that religious should reflect on the fundamental role of obedience as a path to understanding God's will. The exercise of religious authority can also be difficult for the superior, the document notes. Everyone in religious life is called to embrace obedience "not just as a passive and irresponsible execution of orders, but as a conscious shouldering of commitments." The Instruction offers some direction for religious superiors, encouraging them to use their authority prudently, "inviting people to listen, favoring dialogue, sharing, co-responsibility." Superiors should show pastoral concern and mercy for those living under their rule, the document notes. The Vatican Instruction repeatedly calls readers back to the understanding that obedience is not only a means of structuring the life of religious communities, but a way of seeking and understanding God's will. Religious, the document stresses, should recognize in their obedience to superiors "a real actuation of the will of God." Bình Luận Của TCN: “Đức vâng lời” hay “Quên mình trong vâng phục” nằm trong sách lược nhồi sọ chủ yếu của giáo hội để duy trì cấu trúc quyền lực của Vatican, nhốt tín đồ vào trong một ngục tù tâm linh, suốt đời làm nô lệ cho các bề trên. Chúng ta nhớ rằng, căn bản “đức vâng lời” trong Ca-Tô Giáo Rô-ma đã được khẳng định bởi Thánh Ignatius of Loyola, người sáng lập dòng Tên, như sau: Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta thấy là trắng thì thực sự là đen, [hoặc thấy là đen thì thực sự là trắng, vì Giáo hội Ca-Tô đen ngòm nhưng vẫn tự nhận là trắng. TCN] nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội quyết định như vậy. [John Dollison, Pope-Pourri, p. 174: Ignatius of Loyola: We should always be disposed to believe that which appears white is really black, if the hierarchy of the Church so decides.] Mặt khác, Đ.Ô. Nguyễn Quang Sách không đọc Tân Ước nên viết: “…kinh nghiệm căn bản của Chúa Kitô, Đấng, vì tình yêu, đã vâng lời cho tới chết trên thập giá.” Thật vậy, trong Tân Ước chúng ta có thể đọc vài đoạn sau đây: Mark 14: 33-36: ..Ngài cảm thấy hoang mang sầu não vô cùng. Ngài bảo các môn đồ: “Linh hồn ta buồn rầu cho đến khi chết” Chúa đi một quãng, rồi quỳ sấp dưới đất, cầu xin cho giờ phút khủng khiếp (giờ bị đóng đinh trên thập giá) đừng đến với Ngài nếu có thể được. Ngài cầu nguyện: “Thưa Cha, Cha quyền phép vô cùng, xin cho con khỏi uống chén đau khổ này [nghĩa là khỏi bị đóng đinh], nhưng xin theo ý Cha, chứ không theo ý con; Luke 22: 24: “Trong lúc đau đớn thống khổ, Chúa cầu nguyện càng tha thiết, mồ hôi toát ra như những giọt máu nhỏ xuống đất”; và trước khi thở hắt ra, Chúa còn mở lời oán trách Cha, Mathew 27 và Mark 15: Chúa tôi ơi! Chúa tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi? Ấy thế mà Đ.Ô. Nguyễn Quang Sách lại dạy tín đồ rằng Chúa đã vâng lời Chúa Cha, leo lên cây thập giá để cho người ta đóng đinh, và tín đồ phải bắt chước Chúa, vâng lời cho đến khi chết. Chúa của Đ.Ô. Nguyễn Quang Sách thực ra còn nhát hơn cáy, không như Socrates hay Giordano Bruno thản nhiên để cho người ta thiêu sống, hay như Trần Bình Trọng với câu: “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Chúng ta cũng nên nhớ, Ca-Tô Giáo Rô-ma không phải là một tôn giáo thuần túy về đạo lý và tâm linh, mà là một định chế độc tài và có rất nhiều hoạt động thế tục trong xã hội như chính trị, giáo dục, kinh tài v..v.., và “đức vâng lời” của tín đồ không chỉ áp dụng trong phạm vi tín ngưỡng mà còn trong mọi quyết định của giáo hội trong mọi lãnh vực trong xã hội. Vụ cầu nguyện ở Tòa Khâm Sứ ở Hà Nội cuối năm 2007 vừa qua cho chúng ta thấy rõ Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đã sử dụng “đức vâng lời” của giáo dân, kể cả trẻ con, vác búa, kìm, và xà beng đi cầu nguyện và phá sập cổng sắt Tòa Khâm Sứ, với những hành động sặc mùi xách động chính trị chứ không phải là thuần túy tôn giáo. Và “đức vâng lời” cũng được TGM Ngô Quang Kiệt thi hành dẹp màn cầu nguyện, cuốn gói cờ trống hình tượng v..v.. khi có lệnh của Tòa Thánh. Đó là sự nguy hại của “đức vâng lời” trong Ca-tô Giáo Rô-ma. Cũng vì cái “đức vâng lời” này mà khi xưa giáo dân đã vâng lời các giáo sĩ ngoại quốc và linh mục bản địa đi phá hủy, cướp bóc chùa chiền, cùng giúp thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, điển hình là vụ Linh Mục Trần Lục được giám mục Puginier ban phúc lành để dẫn 5000 giáo dân cùng với quân đội Pháp triệt hạ chiến khu kháng chiến Ba Đình của Đinh Công Tráng. Giáo hội luôn luôn mang Chúa ra làm bung xung để đạt những mục đích thế tục của mình. Điều này rõ ràng nhất trong vài câu sau đây trong bản văn của Vatican: Bản tiếng Việt: “Trước hết, bản văn xem xét chủ đề đức vâng lời tu sĩ, gốc của nó được thấy trong sự tìm kiếm Chúa và ý muốn của Chúa là điều đặc biệt đối với những tín hữu” Bản tiếng Anh: “Đức vâng lời”, tài liệu của Vatican nói rằng, phải nên hiểu bởi tín hữu như là “một con đường để giúp cho cộng đồng và tổ chức tìm kiếm Chúa và hoàn thành ý muốn của Chúa” [Obedience, the Vatican document says, should be understood by religious as "a way to help the community or institute to seek and achieve the will of God.] Nhưng Chúa đã chết cách đây 2000 năm rồi, vậy những vấn nạn thế tục ngày nay mà giáo hội luôn luôn dự phần vào thì Chúa có biết gì không, thí dụ như cuộc tranh luận giữa “Thuyết Tiến Hóa” và “Thuyết Sáng Tạo” của Chúa? Vậy ai giám khẳng định là “ý Chúa” là như thế nào? Mặt khác, giáo lý Ca-tô Giáo dạy rằng Chúa có 23 thuộc tính, trong đó có 3 thuộc tính sau đây: “không ai thấy được” [invisible], “không ai biết được” [unknown], và “không ai hiểu được” [incomprehensible], và chúng ta cũng biết, giáo hoàng, linh mục v..v.. cũng chỉ là người thường như chúng ta, có khi còn tệ hại hơn nhiều, làm đủ mọi tội ác, vậy làm sao biết được ý Chúa là như thế nào. Do đó, sự thật là, những điều giáo hội dạy là ý Chúa, chẳng qua đó chỉ là những thủ đoạn bịp bợm để ru ngủ đám tín đồ dốt nát mà thôi. Nhà Đại Văn Hào Voltaire đã chẳng từng nói: Lời của Chúa là lời của các linh mục; sự vinh quang của Chúa là sự hãnh diện của các linh mục; ý của Chúa là ý của các linh mục; xúc phạm Chúa là xúc phạm các linh mục; tin vào Chúa là tin vào mọi điều linh mục nói (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.) Nhưng tại sao ngày nay mà Vatican lại phải kêu gọi giáo dân phải tuân phục “đức vâng lời”. Điều này rất dễ hiểu. Bởi vì ngày nay trong thế giới Âu Mỹ chẳng còn mấy người còn vâng lời Vatican nữa, ngoại trừ đám dân ngu dốt tình nguyện làm nô lệ cho Vatican vì một cái bánh vẽ trên trời. Suy thoái ở Âu Mỹ, giáo hội dùng Chúa để mê hoặc đám dân ngu dốt ở những nước kém mở mang ở Châu Á, trong đó có Việt Nam. Đã từ lâu, trong thế giới Tây phương có cụm từ “Catholic Cafeteria”, có nghĩa là: Ca-tô giáo là một tôn giáo trong đó có những món ăn tự chọn, ai thích ăn món nào thì chọn món đó. Tín đồ không còn nhắm mắt “vâng lời” bề trên nữa, mà làm theo ý mình, coi những điều “giáo hội dạy rằng…” như là không có. Vài con số thống kê sau đây trên Internet cho chúng ta biết thực trạng của vấn nạn này. 1. Về các cuộc hôn phối trong Ca-tô Giáo. Giáo hội thường dạy hôn phối là một bí tích của Chúa thành lập nên một khi đã kết thành vợ chồng thì không thể ly dị trừ trường hợp đặc biệt phải có sự cho phép của Tòa Thánh. Thực tế ra sao? Những cuộc hôn phối Ca-tô từ 1965 giảm đi 1/3. Hàng năm số hủy bỏ hay vô hiệu hóa bí tích hôn phối tăng từ 338 năm 1968 tới 50,000 năm 2002. [Catholic Marriage. Catholic marriages have fallen in number by one-third since 1965. The annual number of annulments has soared from 338 in 1968 to 50,000 in 2002. ] 2. Giáo hội dạy rằng đi lễ nhà thờ là một tín điều, không đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật là một tội trọng nhưng thực tế chúng ta đã biết ở Âu Châu, có nơi số tín đồ đi xem lễ ngày chủ nhật chỉ là khoảng 2%. Riêng ở nước Mỹ thì chúng ta có vài con số thống kê sau đây. Năm 1958 có 74% tín đồ Ca-tô đi xem lễ ngày chủ nhật. Năm 1965 còn có 65%, theo cuộc nghiên cứu của đại học Fordham Năm 1994, con số này tụt xuống 27%, theo cuộc nghiên cứu của đại học Notre Dame. Năm 2000, con số đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật là 25%, theo đại học Fordham. [Attendance at Mass. In 1958, a Gallup Poll reported that 74% of Catholics then attended church on Sundays. In 1965, it seems that 65% attended, according to a recent Fordham University study. In 1994, it seems that 27% attended church, according to study by the University of Notre Dame. In 2000, the rate was 25%, according to the Fordham study.] 3. Về các bí tích và các giáo luật của Ca-tô Giáo Rô-ma: 70% tín đồ Ca-tô trong lớp tuổi 18-44 tin rằng bí tích “Ban thánh thể” [hay nói nôm na là ăn thịt uống máu Chúa] chỉ là có tính cách tượng trưng để nhớ lại Giê-su [không như giáo hội dạy: mẩu bánh đích thực là thịt Chúa, và rượu lễ đích thực là máu Chúa] 90% những người dạy về tôn giáo bác bỏ giáo lý của giáo hội về ngừa thai. 53% tin rằng một tín đồ Ca-tô có thể phá thai và vẫn là một con chiên ngoan đạo 65% tin rằng tín đồ Ca-tô có thể ly dị và tái hôn. 75% tin rằng một tín đồ ngoan đạo không cần phải đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật. [Indicative beliefs 70% of all Catholics in the age group 18 to 44 believe the Eucharist is a "symbolic reminder" of Jesus. 90% of lay religious teachers reject church teaching on contraception. 53% believe a Catholic can have an abortion and remain a good Catholic. 65% believe that Catholics may divorce and remarry. 75% believe one can be a good Catholic without attending mass on Sundays. ] III Sau đây là tóm tắt vài điểm chính trong bản tin của VietCatholic: Ngày 29 tháng 5, 2008, Giáo hoàng Benedict XVI lý luận trước hội nghị các giám mục Ý rằng một quốc gia dân chủ nên hỗ trợ các trường học Ca-tô. Giáo hoàng nói về giáo dục và truyền đạo, cho rằng cuộc khủng khoảng giáo dục là vấn đề “trao truyền đức tin cho các thế hệ sau.” Giáo hoàng thường nói về sự cần thiết cung cấp cho giới trẻ một sự đào tạo đầy đủ về đạo đức và văn hóa. Ông ta quan niệm giáo dục phải đi liền với truyền đạo và nói: “Không có vấn nạn xã hội hay về con người nào có thể giải quyết nếu Thiên Chúa không trở lại làm trọng điểm trong đời sống của chúng ta.” VietCatholic News (Thứ Năm 29/05/2008 21:32) Rome, May. 29, 2008 - In a May 29 talk to the Italian bishops' conference, Pope Benedict XVI (bio - news) argued that a democratic state should support Catholic schools. Since the government invests resources in many different projects, the Holy Father reasoned, "there does not appear to be any justification for excluding adequate support for the work of Church institutions in the field of education." Public investment in Catholic schools, he said, "could not fail to produce beneficial effects" for secular society. The Italian bishops are holding their 58th general assembly in Rome this week, with the meetings taking place in the Vatican Synod hall. The Pope spoke to the bishops about the main topics for this meeting: education and evangelization. Italy today faces an "educational crisis," the Pope warned, raising a theme that he has mentioned frequently during his pontificate. The Pontiff has repeatedly spoken about the need to provide young people with adequate moral and cultural formation. From the Catholic perspective, he said, the educational crisis involves "the transmission of the faith to new generations." Educators and pastors must battle with a culture of relativism, which "puts God within parentheses and discourages all true commitment," the Pope told the Italian hierarchy. To overcome that sort of opposition, he said, the Church needs to muster greater "evangelical energy" and to demonstrate the joy of faith. The Pope said that he could see signs of a desire for change in Italian society-- signs of a new willingness to recognize the need for moral integrity and commitment. The Church has a special role to play in that societal recovery, he said, adding: "No other human and social problem can truly be solved if God does not return to the center of our lives." Bình Luận Của TCN: Qua bài phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang của đài Tiếng Quê Hương, tôi được biết một trong những điều kiện mà Vatican đưa ra để tiến hành việc bang giao với Việt Nam là phải để cho Vatican mở trường học ở Việt Nam. Đây là sách lược toàn cầu của Vatican ở bất cứ nơi nào mà Vatican có thế lực và được các giáo hội bản địa thi hành. Ở Âu Châu trước đây, Ca-tô Giáo nắm toàn quyền giáo dục trẻ em nhưng từ thế kỷ 19, Vatican đã mất đi quyền lực này. Thật vậy, từ thế kỷ 19, ở nước Pháp, các trí thức Pháp đã nhận thức được sự quan trọng của một nền giáo dục khai phóng cho nên đã cương quyết chống lại nền giáo dục của Ca Tô Giáo Rô Ma mà họ cho rằng đã "dạy dỗ những đứa trẻ để chống lại tổ quốc của chúng và cản sự tiến bộ của chúng" (Élever des enfants contre leur pays et contre leur temps) và họ đã thành công trong việc "Giật con em ra khỏi vòng tay giáo dục của các linh mục, vạch trần những đạo đức giả của Giáo hội” (Arracher l'enfant au moine, dévoiler les hypocrisies de l'Église) và nhà đại văn hào Victor Hugo đã đưa ra nhận định: "Nền văn minh, ánh sáng này, có thể bị tắt đi bởi hai sự chìm ngập, hai sự xâm lăng nguy hiểm đối với nền văn minh, (đó là) sự xâm lăng của các quân lính và sự xâm lăng của các linh mục. Sự xâm lăng của các quân lính đe dọa mẹ chúng ta: tổ quốc; sự xâm lăng của các linh mục đe dọa con chúng ta: tương lai" (La civilisation, cette lumière, peut être éteinte par deux modes de submersion, deux invasions lui sont dangereuses, l'invasion des soldats et l'invasion des prêtres. L'une menace notre mère, la patrie; l'autre menace nos enfants, l'avenir.) Mục đích mở trường học của Ca-tô Giáo Rô-ma là gì? Để kiếm tiền và dụ người vào đạo bằng chính sách nhồi sọ. Thực chất những trường học, nhà thương, và viện mồ côi, hội cứu tế, viện dục anh v..v... của Ca Tô Giáo Rô Ma được tóm tắt trong nhận định sau đây của B. S. Rajneesh, trong cuốn "Linh Mục và Chính Trị Gia: Những Mafia của Linh Hồn" ("Priests & Politicians: The Mafia of the Soul", The Rebel Publishing House GmbH, Cologne, West Germany, 1987, trg. 25): "Nếu con người nghèo đói, họ có thể dễ bị dụ vào KiTô giáo, đặc biệt là Ca Tô giáo. Những trường học, nhà thương, và viện mồ côi của họ chẳng qua chỉ là những xưởng để cải đạo người ta trở thành tín đồ CaTô." (If people are poor and hungry, they can be easily converted to Christianity, particularly into the Catholic Church. Their schools, their hospitals, their orphanages are nothing but factories for converting people into Catholics.) Riêng ở Việt Nam, tưởng chúng ta cũng nên nhắc lại sách lược của các giáo sĩ thừa sai dùng trường học, giáo dục để Ca Tô hóa Việt Nam và sớm đưa Việt Nam vào vòng đô hộ của Pháp như thế nào. Trong bài "Le Rôle Des Missionnaires au Viêt-Nam: Un Décalage Dans Le Temps et Dans L'Espace", đăng trong cuốn "Catholicisme et Sociétés Asiatiques", Yoshiharu Tsuboi đã viết một cách rõ ràng về sách lược trên như sau: "Trên bình diện tôn giáo, điều cấp bách là phải xây dựng tổ chức những giáo xứ và củng cố sự hiện diện của Ca Tô Giáo bằng hệ thống giáo dục... Giám mục Puginier ý thức được điều này và đã củng cố được nhiều cơ sở tại các nơi đây. Trong nhiệm vụ của ông, nghĩa là, trong giáo xứ Bắc Kỳ miền tây, mỗi linh mục phải nuôi nấng tại nhà một số trẻ nào đó, được chọn từ những gia đình Ki Tô tốt nhất, trong những đứa thông minh nhất và có khả năng nhất. Từ 10 hoặc 12 tuổi, những đứa trẻ trên bắt đầu phục vụ ông linh mục và học chữ Nho và chữ la tinh nhập môn. Tới 16 hay 18 tuổi, chúng được lọc lựa, tùy theo khả năng và hạnh kiểm, để hoặc gửi đi các trường Dòng, hoặc vào các trường huấn luyện những người dạy giáo lý, hoặc ở lại tiếp tục phục vụ ông linh mục... Một mặt khác các ông linh mục cũng dạy học trò chủ thuyết Ki Tô, dùng chữ Quốc Ngữ. Dùng Quốc Ngữ có hai lợi điểm: một mặt có thể tách biệt tinh thần triết lý của Khổng Tử, mặt khác chữ này dễ học hơn. Nếu những linh mục trong Phái bộ Truyền Giáo Hải Ngoại đặt nặng tầm quan trọng vào giáo dục những đứa trẻ ở trong các trường học của họ, đó là vì họ nghĩ rằng quyền lợi truyền giáo thì đồng nhất với quyền lợi thuộc địa. Đối với họ, trường học là phương tiện tốt nhất để truyền bá niềm tin Ki Tô nhưng cũng là để củng cố chính sách thuộc địa. Chúng ta hãy dẫn chứng thêm nơi đây lời của linh mục Wibaux: "Thật ra không có cách nào khác để đi vào dân bản xứ, những con dân của Pháp Quốc, mau hơn và hữu hiệu hơn...Sự thành lập những trường học đích thực là cách tốt nhất để thuộc địa hóa và tuyên truyền tôn giáo.” (Sur le plan religieux, l'urgent est de construire l'organisation des vicariats et d'affermir la présence catholique notamment par le système d'éducation...Mgr Puginier en a pris conscience et consolide les institutions en place. Dans sa mission, c'est à dire, dans le vicariat du Tonkin occidental, chaque prêtre doit élever chez lui un certain nombre d'enfants, choisis dans les meilleurs familles chrétiennes, parmi les plus intelligents et les plus doués. Ces enfants commencent, vers dix ou douze ans, à servir le père et à étudier les caractères chinois et les premiers éléments du latin. Vers l'âge de seize à dix-huit ans, ils sont sélectionnés, selon leurs capacités et leur conduite, soit pour entrer au séminaire, soit pour entrer à l'école des catéchistes, soit pour rester au service du père. Par ailleurs, les missionnaires apprennent aux élèves la doctrine chrétienne en employant le quoc ngu. Le Quoc ngu présente deux avantages: d'une part, il concourt à détacher les esprits de la philosophie confucéenne, d'autre part, cette transcription est plus facile à assimiler que les caractères chinois... Si les pères des Missions Étrangères accordent beaucoup d'importance à l'enseignement des enfants dans leurs écoles, ils pensent alors que l'intérêt de l'évangélisation s'identifie à celui de la colonisation. Pour eux, les écoles constituent le meilleur moyen de propagation de la foi chrétienne mais aussi d'affermissement de la colonisation. Citons, de nouveau, le père Wibaux: "Il n'y a pas d'ailleurs d'autre moyen d'entrer plus rapidement et plus efficacement en relations avec les indigènes, sujets de la France... La création des écoles est donc le meilleur moyen de colonisation et de propagande religieuse.") Và chúng ta cũng nên nhớ, dưới thời Ngô Đình Diệm, cuốn Lịch Sử Thế Giới của Nguyễn Hiến Lê bị cấm, và ở trường Đại Học Văn Khoa thì giới khoa bảng gia nô Ca-tô, “những nhân viên giảng huấn nổi tiếng về quan điểm phiến diện, hạn hẹp, và kỳ thị đối với Phật Giáo” (Báo Độc Lập, số 1538, thứ Năm 09-01-1975, trang 1) đã dùng cuốn Sãi Vãi làm sách giáo khoa, một cuốn sách chứa những giọng đùa cợt thô bỉ, thiếu tế nhị, điệu bộ và cử chỉ lố lăng, và thiếu giáo dục để đả phá Phật Giáo? Đó là khi Ca-Tô giáo chưa nắm đủ quyền lực quốc gia. Giáo hoàng nói đến vấn đề đào tạo tín đồ về đạo đức và văn hóa qua các trường học Ca-tô. Nhưng đó chỉ là câu nói trên đầu môi chót lưỡi, vì thực tế đã cho chúng ta thấy trong cả hai lãnh vực này, giáo hội đã thất bại nặng nề. Hơn 5000 linh mục trên nước Mỹ, những người được giáo hội đặc biệt đào tạo như là “Chúa thứ hai”, bị truy tố vì can tội loạn dâm với nữ tín đồ và trẻ em vị thành niên cho chúng ta thấy thực chất việc đào tạo đạo đức trong Ca Tô Giáo ở cấp lãnh đạo. Mặt khác, nền giáo dục Ca-tô trong các trường học đặt nhẹ mục đích giáo dục hay giảng dạy văn hóa, mà lợi nhuận là mục tiêu chính. Ở nước Mỹ, nơi nào không còn kiếm được tiền qua các trường học thì giáo hội không ngần ngại đóng cửa các trường học Ca-tô. Vài thống kê cho chúng ta thấy thực trạng các trường Ca-tô trên đất Mỹ: Một nửa số trường trung học Ca-tô ở Mỹ đã phải đóng cửa từ năm 1965, Số học sinh giảm từ 700000 xuống còn 386000. Tình trạng các trường tiểu học còn tệ hơn. Khoảng 400 trường đã phải đóng cửa, và số học sinh sụt từ 4.5 triệu xuống dưới 2 triệu. [Catholic schools. Almost half of all Catholic high schools in the United States have closed since 1965. The student population has fallen from 700,000 to 386,000. Parochial schools have suffered even worse. Some 4,000 have shut down, and the number of pupils has fallen from 4.5 million to just under 2 million.] Một thông tin khác của Mary Ann Zehr viết như sau: Sự xôn xao về những trường học Ca-tô phải đóng cửa cuối niên học này đã làm tăng thêm số những trường học Ca-tô phải đóng cửa – hầu hết các trường này phục vụ cho những gia đình lợi tức kém ở thành thị. Nêu lên những khó khăn về tài chánh và số học sinh sút giảm, các viên chức của giáo hội loan báo có nhiều trường Ca-tô phải đóng cửa năm nay, gồm cả những trường học ở Chicago, Philadelphia, Buffalo, Boston, Cleveland, và Pittsburg. Tin tức này là tiếp theo một năm có số trường học Ca-tô bị đóng cửa cao nhất trong nhiều năm qua [Catholic School Closures On Increase] By Mary Ann Zehr The flurry of Roman Catholic schools set to close at the end of this school year fuels a two-year rise in the number of Catholic schools—most of them serving low-income urban families—shutting their doors. Citing financial difficulties and falling enrollments, officials have announced numerous Catholic school closures this year, including schools in Chicago, Philadelphia, Buffalo, Boston, Cleveland, and Pittsburgh. The news follows a year that marked the highest number of Catholic school closures in the past several years.] Tại sao lại có tình trạng trường học Ca-tô phải đóng cửa hàng loạt trên một đất nước mà Ca-tô giáo chiếm 22-25% dân số? Có nhiều lý do, nhưng lý do chính là tín đồ không còn chịu theo học tại các trường học Ca-tô nữa, vì tốn kém và giá trị trí thức không như các trường học công cộng (Public schools). Do đó trường học không mang lại lợi nhuận và giáo hội không quan tâm vào việc đào tạo giáo dục cho con chiên. Louis Giusto viết trên Internet ngày 20 tháng 12, 2007: Các giám mục Ca-tô Mỹ có bao giờ làm được điều gì đúng không? Nhiều triệu đô la dùng để dàn xếp những vụ kiện linh mục loạn dâm nhưng không chi một xu nào cho những trường tiểu học Ca-tô. Các trường tiểu học Ca Tô là cái ống vận chuyển để kéo toàn thể các gia đình vào trong đời sống của giáo xứ. [Have American Catholic bishops ever gotten anything right? Millions to settle pedophile priest law suits but not one penny for primary catholic education… Catholic primary schools are the pipeline. They draw entire families into parish life.] Chúng ta cũng nên biết là tình trạng trường học Ca-tô phải đóng cửa không chỉ có trên nước Mỹ mà còn xẩy ra ở khắp Âu Châu. Tòa Thánh, tuy tiền rừng bạc bể, nhưng lại không chịu bỏ tiền ra đầu tư vào giáo dục con chiên mà lại muốn chính quyền Ý phải phần nào cáng đáng gánh nặng này. Tôi không tin rằng ý muốn của Giáo hoàng sẽ được đáp ứng bởi vì chính quyền Ý ngày nay là một chính quyền thế tục (secular) không phải là chính quyền Ca-tô. Cuộc khủng khoảng của Ca-tô Giáo Rô-ma không chỉ trong lãnh vực các trường học mà còn ở trong mọi lãnh vực khác liên quan đến vấn đề giáo dục con chiên như chúng ta thấy trong những con số sau đây. Số linh mục đã giảm từ 58000 xuống 45000. Tới năm 2020 chỉ còn 31000 và một nửa là trên 70 tuổi. Năm 1965, có 1575 linh mục mới được tấn phong. Năm 2002, con số là 450. Khoảng 3000 giáo xứ nay không có linh mục. [Hi vọng mười mấy linh mục Mít mới được tấn phong có thể bù đắp cho con số này] Trong khoảng từ 1965 đến 2002, số người vào học trường Dòng sụt giảm từ 49999 còn 4700, một sự suy giảm trên 90%. 2/3 số trường Dòng mở năm 1965 nay đã phải đóng cửa. Số nữ tu Ca-tô (Sơ), 180000 năm 1965, đã sút giảm 60%. Tuổi trung bình ngày nay là 68. Số nữ tu giáo viên giảm 94% từ Vatican II. Số người trẻ học để làm linh mục dòng tên giảm 90% từ Vatican II. Năm 1958, cứ 4 người thì có 3 đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, nay chỉ còn 1. [By Patrick J. Buchanan, April 11, 2005 : The number of Catholic priests has fallen from 58,000 to 45,000. By 2020, there will be 31,000 and half will be over 70. In 1965, 1,575 new priests were ordained. In 2002, the number was 450. Some 3,000 parishes are today without priests. Between 1965 and 2002, the number of seminarians fell from 49,999 to 4,700, a decline of over 90 percent. Two-thirds of the seminaries open in 1965 have since closed their doors. The number of Catholic nuns, 180,000 in 1965, has fallen by 60 percent. Their average age is now 68. The number of teaching nuns has fallen 94 percent since the close of Vatican II. The number of young men studying to be Jesuits has fallen by 90 percent and of those studying to be Christian Brothers by 99 percent. The religious orders seem to be dying out in America. Where three in four Catholics attended mass on Sunday in 1958, today one in four do.] Với tình trạng suy thoái trầm trọng ở phương trời Âu Mỹ như trên, không lạ gì khi giáo hội toan tính gia tăng nỗ lực truyền đạo sang Á Châu, nơi đây trong nhiều miền, dân trí còn thấp kém và đời sống vật chất còn khó khăn, rất dễ dàng làm mồi cho các giáo hội địa phương để bành trướng qua những sách lược như mở trường học, lập cơ quan từ thiện, mở nhà thương v..v... Trước sự đòi hỏi mở trường của Vatican, tôi nghĩ Nhà Nước Việt Nam nên nghiên cứu kỹ vấn đề này để tránh việc đưa con em của mình vào guồng máy Ca-tô, hay nói khác đi vào một ngục tù tâm linh, làm nô lệ cho Vatican, từ đó đi đến phản bội quốc gia chỉ là một bước vì cái “đức vâng lời” trong Ca-tô Giáo Rô-ma. Chỉ cho phép mở trường nơi nào có nhu cầu thiết thực và tiện nghi trường sở, chương trình học, sách giáo khoa, thành phần giảng viên phải theo đúng những tiêu chuẩn của quốc gia. Giảng viên phải tốt nghiệp sư phạm được Nhà Nước công nhận để dạy cấp tiểu học và trung học, phải hội đủ tiêu chuẩn bằng cấp để dạy đại học, và Nhà Nước phải thường xuyên kiểm soát chương trình học, nội dung giảng dạy, khuyến cáo học sinh phải báo cáo những lời tuyên truyền đạo ở trong lớp ra ngoài chương trình hay bộ môn học, và có biện pháp ngăn chận hay trừng phạt. Đây là vấn đề giáo dục con em người dân trong nước, có ảnh hưởng đến tương lai và sự tồn vong của quốc gia, không phải là vấn đề tự do tôn giáo, hay tự do tín ngưỡng. g yeu quy dang lam thuong truc nha khaïch
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||