World / Vietnam / Dong Bang Song Hong / Ha Noi, 1 km from center Coordinates: 21°1'37"N   105°50'55"E
This place was deleted, it will be removed from all search engines in few weeks.

NHA KHACH TOA TGM HANOI


Thay Ban

NHÂN ĐỌC VÀI BẢN TIN TRÊN VIETCATHOLIC

Trần Chung Ngọc

Một bản tin cũ mà tôi đọc là về sắc lệnh của Tòa Thánh năm 2003 quyết định “tuyệt thông” 7 nữ nhân bất chấp Tòa Thánh, nhận phong chức Linh mục, trái với “giáo lý chân chính” của Giáo hội là “Người Nữ không được làm Linh mục” do Đức Ông Nguyễn Quang Sách viết.. Bản tin mới gần đây, ngày 29 tháng 5, 2008, là về “sắc lệnh đe dọa rút phép thông công ngay lập tức với những ai truyền chức linh mục cho giới nữ, và những phụ nữ được truyền chức linh mục”, do Đức Long viết. Bản tin thứ ba mới đây mà tôi đọc là về một văn kiện của Vatican ngày 28 tháng 5, 2008, nhấn mạnh sự quan trọng của “đức vâng lời” trong Ca-tô Giáo, và bản tin thứ tư là trong cuộc hội nghị của các giám mục Ý, Giáo hoàng Benedict XVI cho rằng các chính quyền dân chủ nên hỗ trợ và tài trợ cho các trường học Ca-tô. Tôi sẽ lần lượt có vài bình luận ngắn về những bản tin này. Trước hết xin mời quý độc giả đọc 2 bản tin đầu về sắc lệnh tuyệt thông.

I

Một hành động cần thiết bảo vệ Giáo lý và Hướng dẫn các Lương tâm

VATICAN 27/1/2003 (Zenit.org).-Tòa Thánh đã phổ biến một sắc lệnh xác nhận vạ tuyệt thông cho một số người nữ đã tham gia trong một cuộc phong chức giả vờ linh mục tháng Sáu vừa qua.
Văn kiện của Bộ Giáo lý Đức tin loan báo rằng Tòa Thánh đã đã bác bỏ khiếu nại do các người nữ này nêu lên đối với sắc lệnh tuyệt thông, được bộ Vatican phổ biến hôm 5/8 vừa qua.
Hơn nữa, Tòa Thánh xem "việc từ chối tuân phục lệnh phạt do Giáo hội thiết lập" lại dược gia trọng hơn nữa bởi sự kiện một số những người nữ nói trên đã tập hợp quanh mình những thành phần tín hữu, trong một cuộc chống đối công khai và gây chia rẽ đối với Đức Giáo Hoàng và các giám mục giáo phận."

Văn kiện nói thêm: " Trườc sự nặng nề của sự bướng bỉnh này (x. can 1347 CIC), hình phạt áp đặt không những là đúng đắng, mà còn cần thiết, hầu bảo vệ giáo lý chân chính, bảo tồn sự hiệp thông và hệp nhất của Giáo hội, và hướng dẫn lương tâm người tín hữụ"
Sắc lệnh, đề ngày 21/12/2002 và hôm nay mới phổ biến, được ký do Hồng Y Joseph Ratzinger và Tổng Giám mục Tarcisio Bertone, chủ tịch và thư ký của Bộ Giáo Lý Ðức Tin
Sắc lệnh đã được phê chuẩn bởi 13 Hồng Y và hai Giám Mục đang phục vụ tại Rome và là thành viên của các bộ tại Vatican.

Đức Gioan Phaolô II đã chấp thuận sắc lệnh cách công khai và yêu cầu phổ biến.
Chủ xướng việc phong chức là người Argentine tên Romulo Antonio Braschi, một giám mục ly khai và là sáng lập viên của một cộng đồng ly khai.

Sắc lệnh chỉ rõ rằng những người nữ, có quốc tịch Đức, Áo và Huê kỳ, đã tham gia vào việc phong chức giả mạo này là Christine Mayr-Lumetzberger, Adelin de Theresia Roitinger, Gisela Fortsrer, Iris Muller, Ida Raming, Pia Brunner và Dagmar Braun Celeste. Người sau này dùng tên Angela White trong dịp này là người Hoa Kỳ nguyên là vợ của cựu Thống Ðốc bang Ohio.
Trong tông thư năm 1994 "Ordinatio Sacerdotalis--phong chức linh mục--," Đức Gioan Phaolo II nói "Giáo hội không có bất cứ quyền bính nào để phong chức linh mục cho người nữ."

Ðức Ông Nguyễn Quang Sách

Toà Thánh nói sẽ rút phép thông công đối với những ai truyền chức linh mục cho phụ nữ
VietCatholic News (Thứ Năm 29/05/2008 16:32)

.

Vatican- Thứ năm ngày 29/05/08, Toà Thánh phổ biển một sắc lệnh đe dọa rút phép thông công ngay lập tức với những ai truyền chức linh mục cho giới nữ, biện pháp này cũng sẽ liên quan đến những phụ nữ được truyền chức linh mục.
Sắc lệnh của Bộ giáo lý đức tin, được phổ biến trên báo Toà Thánh, quan sát viên Roma cho biết rằng « sắc lệnh sẽ có ảnh hưởng đến việc truyền chức thánh cho phụ nữ, vì chị em nào dám lãnh nhận chức linh mục, sẽ có nguy cơ bị rút phép thông công ngay lập tức ».
Việc truyền chức linh mục cho phụ nữ thường là câu chuyện kinh niên. Năm 2002, bảy chị em phụ nữ công giáo, gồm phụ nữ nước Đức, Áo, Hoa Kỳ được truyền chức linh mục trong một cộng đoàn được thành lập năm 1975 tại Bunos Aires, do một cựu linh mục công giáo ở Romula Antonio Braschi.
Toà Thánh rút phép thông công họ chỉ vài tuần sau khi được truyền chức, và cho rằng họ đã phạm « một tội nghiêm trọng đối cơ cấu thiên tính của Giáo Hội ».
ĐGH Gioan Phalô II, vị tiền nhiệm ĐGH Beneđictô XVI, đã tái khẳng định năm 1994 lập trường của Giáo Hội công giáo, ngài giải thích rằng Giáo Hội không có quyền truyền chức linh lục cho phụ nữ.
Đối với Roma đây là một chủ đề tiếp tục sự chia rẽ với Giáo Hội Anh giáo. Giáo Hội Anh Giáo cho phép nữ giới được làm linh mục.

Đức Long

*

Bình luận của TCN: Tuyệt thông hay rút phép thông công là hình phạt của Giáo hội Ca-tô áp dụng đối với các con chiên ghẻ không tuân phục và vâng lời giáo hội. Hình phạt này có nghĩa là những người bị phạt không còn quyền hưởng các “bí tích” trong Ca-Tô Giáo Rô Ma, và do đó Giáo hội không cho họ hiệp thông với Chúa của họ. Đối với những tín đồ thấp kém, nhẹ dạ, cả tin, "tuyệt thông" hay "rút phép thông công" là một vũ khí hù dọa hữu hiệu, vì họ đã được nhồi vào đầu từ khi còn nhỏ là muốn hiệp thông với Chúa thì phải đi qua các trung gian như Linh mục, Giám mục, Giáo hoàng hay "Tòa Thánh". Nhưng đối với giới trí thức, ngay cả trong giáo hội, thì đó chỉ là một biện pháp hù dọa đáng khinh, vì nó vô giá trị, vô nghĩa, lỗi thời, và nhất là dựa vào một quyền lực tự phong, không có một căn bản nào có thể thuyết phục được những người có đầu óc. Thật vậy, trong cuốn Thượng đế Chưa Chết: Từ Sự Sợ Hãi Tôn Giáo Đến Sự Tự Do Tâm Linh (God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom), Linh Mục James Kavanaugh đã vạch rõ cho chúng ta thấy bản chất và ý nghĩa của Hình Phạt Hù Dọa Tuyệt Thông Của Tòa Thánh, trang 39-40:

Tôi thấy khó mà có thể tin được là trong thời đại kỹ thuật không gian này mà một đoàn thể tôn giáo (Ca-Tô giáo Rô-ma. TCN) lại có thể quá lỗi thời để tin rằng một hình phạt thuộc loại huyền thoại như vậy vẫn còn có ý nghĩa gì đối với con người.

...Tuyệt thông, trong nhiều thế kỷ, đã là vai trò của giới quyền lực đóng vai Thượng đế . Đó là sự chối bỏ sự tự do suy tư của con người một cách vô nhân đạo và phi-Ki-tô. Nhưng nhất là, nó đã là nỗ lực điên cuồng của một quyền lực, vì quá lo sợ mất đi quyền lực của mình, nên phải kiểm soát tín đồ thay vì hướng dẫn họ đi tới một tình yêu thương tự do và trưởng thành.

Tuyệt thông toan tính biến sự thực chứng tôn giáo thành một trại huấn luyện quân sự trong đó sĩ quan phụ trách nhào nặn lên những người máy trung thành bằng cách làm chúng ngạt thở bởi giam hãm và sỉ nhục. Có thể những phương pháp này có nghĩa trong việc huấn luyện con người để chiến đấu ngoài mặt trận. Những phương pháp này thực là trẻ con và bất lương khi xử lý với sự liên hệ của con người đối với Thượng đế; nhưng thật không thể tin được là chúng vẫn còn tồn tại.

(I found it hard to believe that in the age of space technology a religious body could be so out of touch as to believe such a mythological penalty could have any meaning left for man.

...Excommunication had for centuries been authority's way of playing God. It was the inhuman and unchristian denial of man's freedom of conscience. But most of all it had been a deeply frigtened authority's frantic effort to dominate and control men and woman rather than to direct them toward a free and mature love. Excommunication attempted to turn the religious experience into a boot camp where the officer in charge aspires to build loyal robots by smothering them with confinement and indignity. Perhaps such methods might have had meaning in preparing man for combat. They are only childish and dishonest in dealing with a man or woman's relationship with God, but incredulously they still exist.)

II

Tòa Thánh muốn con chiên phải tiếp tục nhắm mắt nhắm mũi vâng lời bề trên trong cấu trúc quyền lực tự tạo của Giáo hội Ca-tô Rô-ma:

Catholic World News

VietCatholic News (Thứ Bảy 31/05/2008 06:46)

VATICAN (Zenit.org).- Văn kiện 50 trang do Tòa ThánhVatican phát hành khẳng định Đức vâng lời trong đời sống tu sĩ là một cuộc hành trình trong sự tìm kiếm Chúa, nhắm trở nên ý thức về ý định tình yêu của Người.
Bộ Tu Sĩ và Tu Hội Đời phát hành hôm thứ Tư 28/5 một tập cẩm nang 50 trang với tiêu đề: “Sự Phục Vụ của Uy Quyền và Đức Vâng Lời.” Tập hướng dẫn này được trình bày sáng nay trong một đại hội của các vị Bề Trên Dòng Nam và Nữ được tổ chức tại Salesianum, Roma.

Một thông cáo do bộ phổ biến tường thuật: “Trước hết, bản văn xem xét chủ đề đức vâng lời tu sĩ, gốc của nó được thấy trong sự tìm kiếm Chúa và ý muốn của Chúa là điều đặc biệt đối với những tín hữu. […] Đức vâng lời Kitô hữu và tu sĩ, như vậy, không xuất hiện đơn giản như sự thực hiện những luật và những quyết định giáo hội hay tu sĩ, nhưng như động lượng của một cuộc hành trình trong sự tìm kiếm Chúa, tức là nghe Lời Người và trở nên ý thức đối với quyết định của Người về tình yêu—sự kinh nghiệm căn bản của Chúa Kitô, Đấng, vì tình yêu, đã vâng lời cho tới chết trên thập giá.
“Uy Quyền trong đời sống tu sĩ phải được hiểu trong ánh sáng này, nói cách khác, như một phương cách để giúp cộng đồng—hay là viện --tìm kiếm và hoàn thành ý muốn của Chúa. Như vậy, đức vâng lời không được biện minh trên nền tảng của uy quyền tu sĩ, bởi vì mọi người trong một cộng đồng tu sĩ—trước hết và chính những uy quyền—được kêu gọi phải vâng lời. Uy quyền tự đặt mình phục vụ trong cộng đồng ngõ hầu ý muốn của Chúa sẽ có thể được tìm kiếm và hoàn thành chung.”
Thông cáo đã lưu ý vấn đề uy quyền tu sĩ sẽ được đặt trong bối cảnh của một “sự dấn thân vâng lời được chia sẻ nổi bật.”
Những khó khăn
Sự hướng dẫn cũng xem xét: vấn đề tế nhị của ‘sự vâng lời khó’, tức là trong đó điều được đòi buộc với một tu sĩ là đặc biệt khó thi hành, hay là trong đó chủ sự cảm giác mình thấy ‘những sự tốt và ích lợi cho linh hồn mình hơn là những sự bề trên lệnh cho mình phải làm,’ “ thông cáo nói thêm. “Trích từ một văn bản còn thích đáng của Đức Phaolô VI, văn kiện cũng viết về sự có thể có những ‘thắc mắc lương tâm’ trong chủ thể phải vâng lời.”
Thông cáo nói tiếp: “Tập hướng dẫn tìm kiếm nhắc nhở, hơn hết đức vâng lời trong đời sống tu sĩ có thể làm nẩy sinh những lúc khó khăn, những tình huống đau khổ trong đó cần phải qui chiếu về Đấng Vâng Lời tuyệt hảo, Chúa Kitô. […]Hơn nữa, phải nhớ rằng uy quyền cũng có thể gặp ‘khó,’ vì gặp những lúc ngã lòng và mệt nhọc có thể dẫn tới sự từ chức hay là không chú tâm vào việc thi hành một sự hướng dẫn thích hợp […] của cộng đồng.
“Sự qui chiếu về lương tâm giúp người ta coi sự vâng lời không hẵn là một sư thi hành những mệnh lệnh cách thụ động và vô trách nhiệm, nhưng là một sự nhận lấy cách ý thức những cam kết […], vì đó là một sự thúc đẩy thật sự do ý muốn của Chúa.”
“Nếu văn kiện chứa đựng một lời khuyên vâng lời cách thanh thản và vì đức tin, văn kiện cũng hiến một loạt rộng rải và cố kết các chỉ dẫn cho việc thực thi uy quyền, “ như “mời người ta nghe, ủng hộ sự đối thoại, sự chia sẻ, đồng trách nhiệm, […] và việc đối xử đầy lòng thương xót những kẻ “ được giáo phó cho uy quyền, thông cáo nói thêm.
Sự hướng dẫn này, tuyên bố đó kết luận, “lưu ý đặc biệt về cộng đồng tu sĩ như một nơi trong đó, dưới sự hướng dẫn của bề trên, một hình thức’ sáng suốt cộng đồng’ phải được thực thi trong việc lấy quyết định. Việc thực thi này, đối với việc thi hành mà những gợi ý quan trọng được cống hiến, không loại trừ vai trò của uy quyền.[…]Và không nên quên rằng, theo truyền thống xa xưa, uy quyền cao nhất trong những viện tu sĩ thuộc tổng tu nghị—hay là một thể chế tương tự—đó là một đội tập đoàn.”

Đ.Ô Nguyễn Quang Sách

Catholic World News

VietCatholic News (Thứ Tư 28/05/2008 15:39)

VATICAN - The Vatican has issued a new document underlining the importance of obedience in religious life.
Entitled "The Service of Authority and Obedience," the 50-page document from the Congregation for Religious takes the form of an Instruction. It was presented to the superiors of male and female religious orders on May 28 at an assembly held in the Salesianum in Rome.
Obedience, the Vatican document says, should be understood by religious as "a way to help the community or institute to seek and achieve the will of God." The basis for religious obedience, the Instruction notes, is found "in that search for God and for his will which is particular to believers." In offering their obedience, religious imitate "the fundamental experience of Christ Who, out of love, was obedient unto his death on the Cross."
The document from the Congregation for Religious explicitly takes up the question of "difficult obedience," which arises when the individual religious finds the superior's directions "particularly hard to carry out." It also considers situations in which the superior's orders might cause conflicts in the individual's conscience.
Obedience can "give rise to difficult moments," the Vatican document acknowledges. Nevertheless the Instruction observes that religious should reflect on the fundamental role of obedience as a path to understanding God's will. The exercise of religious authority can also be difficult for the superior, the document notes. Everyone in religious life is called to embrace obedience "not just as a passive and irresponsible execution of orders, but as a conscious shouldering of commitments."
The Instruction offers some direction for religious superiors, encouraging them to use their authority prudently, "inviting people to listen, favoring dialogue, sharing, co-responsibility." Superiors should show pastoral concern and mercy for those living under their rule, the document notes.
The Vatican Instruction repeatedly calls readers back to the understanding that obedience is not only a means of structuring the life of religious communities, but a way of seeking and understanding God's will. Religious, the document stresses, should recognize in their obedience to superiors "a real actuation of the will of God."

Bình Luận Của TCN: “Đức vâng lời” hay “Quên mình trong vâng phục” nằm trong sách lược nhồi sọ chủ yếu của giáo hội để duy trì cấu trúc quyền lực của Vatican, nhốt tín đồ vào trong một ngục tù tâm linh, suốt đời làm nô lệ cho các bề trên. Chúng ta nhớ rằng, căn bản “đức vâng lời” trong Ca-Tô Giáo Rô-ma đã được khẳng định bởi Thánh Ignatius of Loyola, người sáng lập dòng Tên, như sau:

Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta thấy là trắng thì thực sự là đen, [hoặc thấy là đen thì thực sự là trắng, vì Giáo hội Ca-Tô đen ngòm nhưng vẫn tự nhận là trắng. TCN] nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội quyết định như vậy.

[John Dollison, Pope-Pourri, p. 174: Ignatius of Loyola: We should always be disposed to believe that which appears white is really black, if the hierarchy of the Church so decides.]

Mặt khác, Đ.Ô. Nguyễn Quang Sách không đọc Tân Ước nên viết: “…kinh nghiệm căn bản của Chúa Kitô, Đấng, vì tình yêu, đã vâng lời cho tới chết trên thập giá.”

Thật vậy, trong Tân Ước chúng ta có thể đọc vài đoạn sau đây: Mark 14: 33-36: ..Ngài cảm thấy hoang mang sầu não vô cùng. Ngài bảo các môn đồ: “Linh hồn ta buồn rầu cho đến khi chết” Chúa đi một quãng, rồi quỳ sấp dưới đất, cầu xin cho giờ phút khủng khiếp (giờ bị đóng đinh trên thập giá) đừng đến với Ngài nếu có thể được. Ngài cầu nguyện: “Thưa Cha, Cha quyền phép vô cùng, xin cho con khỏi uống chén đau khổ này [nghĩa là khỏi bị đóng đinh], nhưng xin theo ý Cha, chứ không theo ý con; Luke 22: 24: “Trong lúc đau đớn thống khổ, Chúa cầu nguyện càng tha thiết, mồ hôi toát ra như những giọt máu nhỏ xuống đất”; và trước khi thở hắt ra, Chúa còn mở lời oán trách Cha, Mathew 27 và Mark 15: Chúa tôi ơi! Chúa tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?

Ấy thế mà Đ.Ô. Nguyễn Quang Sách lại dạy tín đồ rằng Chúa đã vâng lời Chúa Cha, leo lên cây thập giá để cho người ta đóng đinh, và tín đồ phải bắt chước Chúa, vâng lời cho đến khi chết. Chúa của Đ.Ô. Nguyễn Quang Sách thực ra còn nhát hơn cáy, không như Socrates hay Giordano Bruno thản nhiên để cho người ta thiêu sống, hay như Trần Bình Trọng với câu: “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”.

Chúng ta cũng nên nhớ, Ca-Tô Giáo Rô-ma không phải là một tôn giáo thuần túy về đạo lý và tâm linh, mà là một định chế độc tài và có rất nhiều hoạt động thế tục trong xã hội như chính trị, giáo dục, kinh tài v..v.., và “đức vâng lời” của tín đồ không chỉ áp dụng trong phạm vi tín ngưỡng mà còn trong mọi quyết định của giáo hội trong mọi lãnh vực trong xã hội. Vụ cầu nguyện ở Tòa Khâm Sứ ở Hà Nội cuối năm 2007 vừa qua cho chúng ta thấy rõ Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đã sử dụng “đức vâng lời” của giáo dân, kể cả trẻ con, vác búa, kìm, và xà beng đi cầu nguyện và phá sập cổng sắt Tòa Khâm Sứ, với những hành động sặc mùi xách động chính trị chứ không phải là thuần túy tôn giáo. Và “đức vâng lời” cũng được TGM Ngô Quang Kiệt thi hành dẹp màn cầu nguyện, cuốn gói cờ trống hình tượng v..v.. khi có lệnh của Tòa Thánh. Đó là sự nguy hại của “đức vâng lời” trong Ca-tô Giáo Rô-ma. Cũng vì cái “đức vâng lời” này mà khi xưa giáo dân đã vâng lời các giáo sĩ ngoại quốc và linh mục bản địa đi phá hủy, cướp bóc chùa chiền, cùng giúp thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, điển hình là vụ Linh Mục Trần Lục được giám mục Puginier ban phúc lành để dẫn 5000 giáo dân cùng với quân đội Pháp triệt hạ chiến khu kháng chiến Ba Đình của Đinh Công Tráng.

Giáo hội luôn luôn mang Chúa ra làm bung xung để đạt những mục đích thế tục của mình. Điều này rõ ràng nhất trong vài câu sau đây trong bản văn của Vatican:

Bản tiếng Việt: “Trước hết, bản văn xem xét chủ đề đức vâng lời tu sĩ, gốc của nó được thấy trong sự tìm kiếm Chúa và ý muốn của Chúa là điều đặc biệt đối với những tín hữu”

Bản tiếng Anh: “Đức vâng lời”, tài liệu của Vatican nói rằng, phải nên hiểu bởi tín hữu như là “một con đường để giúp cho cộng đồng và tổ chức tìm kiếm Chúa và hoàn thành ý muốn của Chúa”

[Obedience, the Vatican document says, should be understood by religious as "a way to help the community or institute to seek and achieve the will of God.]

Nhưng Chúa đã chết cách đây 2000 năm rồi, vậy những vấn nạn thế tục ngày nay mà giáo hội luôn luôn dự phần vào thì Chúa có biết gì không, thí dụ như cuộc tranh luận giữa “Thuyết Tiến Hóa” và “Thuyết Sáng Tạo” của Chúa? Vậy ai giám khẳng định là “ý Chúa” là như thế nào? Mặt khác, giáo lý Ca-tô Giáo dạy rằng Chúa có 23 thuộc tính, trong đó có 3 thuộc tính sau đây: “không ai thấy được” [invisible], “không ai biết được” [unknown], và “không ai hiểu được” [incomprehensible], và chúng ta cũng biết, giáo hoàng, linh mục v..v.. cũng chỉ là người thường như chúng ta, có khi còn tệ hại hơn nhiều, làm đủ mọi tội ác, vậy làm sao biết được ý Chúa là như thế nào. Do đó, sự thật là, những điều giáo hội dạy là ý Chúa, chẳng qua đó chỉ là những thủ đoạn bịp bợm để ru ngủ đám tín đồ dốt nát mà thôi. Nhà Đại Văn Hào Voltaire đã chẳng từng nói:

Lời của Chúa là lời của các linh mục; sự vinh quang của Chúa là sự hãnh diện của các linh mục; ý của Chúa là ý của các linh mục; xúc phạm Chúa là xúc phạm các linh mục; tin vào Chúa là tin vào mọi điều linh mục nói (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.)

Nhưng tại sao ngày nay mà Vatican lại phải kêu gọi giáo dân phải tuân phục “đức vâng lời”. Điều này rất dễ hiểu. Bởi vì ngày nay trong thế giới Âu Mỹ chẳng còn mấy người còn vâng lời Vatican nữa, ngoại trừ đám dân ngu dốt tình nguyện làm nô lệ cho Vatican vì một cái bánh vẽ trên trời. Suy thoái ở Âu Mỹ, giáo hội dùng Chúa để mê hoặc đám dân ngu dốt ở những nước kém mở mang ở Châu Á, trong đó có Việt Nam. Đã từ lâu, trong thế giới Tây phương có cụm từ “Catholic Cafeteria”, có nghĩa là: Ca-tô giáo là một tôn giáo trong đó có những món ăn tự chọn, ai thích ăn món nào thì chọn món đó. Tín đồ không còn nhắm mắt “vâng lời” bề trên nữa, mà làm theo ý mình, coi những điều “giáo hội dạy rằng…” như là không có. Vài con số thống kê sau đây trên Internet cho chúng ta biết thực trạng của vấn nạn này.

1. Về các cuộc hôn phối trong Ca-tô Giáo. Giáo hội thường dạy hôn phối là một bí tích của Chúa thành lập nên một khi đã kết thành vợ chồng thì không thể ly dị trừ trường hợp đặc biệt phải có sự cho phép của Tòa Thánh. Thực tế ra sao?

Những cuộc hôn phối Ca-tô từ 1965 giảm đi 1/3.

Hàng năm số hủy bỏ hay vô hiệu hóa bí tích hôn phối tăng từ 338 năm 1968 tới 50,000 năm

2002.

[Catholic Marriage.
Catholic marriages have fallen in number by one-third since 1965.
The annual number of annulments has soared from 338 in 1968 to 50,000 in 2002. ]

2. Giáo hội dạy rằng đi lễ nhà thờ là một tín điều, không đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật là một tội trọng nhưng thực tế chúng ta đã biết ở Âu Châu, có nơi số tín đồ đi xem lễ ngày chủ nhật chỉ là khoảng 2%. Riêng ở nước Mỹ thì chúng ta có vài con số thống kê sau đây.

Năm 1958 có 74% tín đồ Ca-tô đi xem lễ ngày chủ nhật.

Năm 1965 còn có 65%, theo cuộc nghiên cứu của đại học Fordham

Năm 1994, con số này tụt xuống 27%, theo cuộc nghiên cứu của đại học Notre Dame.

Năm 2000, con số đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật là 25%, theo đại học Fordham.

[Attendance at Mass.
In 1958, a Gallup Poll reported that 74% of Catholics then attended church on Sundays.
In 1965, it seems that 65% attended, according to a recent Fordham University study.
In 1994, it seems that 27% attended church, according to study by the University of Notre

Dame.
In 2000, the rate was 25%, according to the Fordham study.]

3. Về các bí tích và các giáo luật của Ca-tô Giáo Rô-ma:

70% tín đồ Ca-tô trong lớp tuổi 18-44 tin rằng bí tích “Ban thánh thể” [hay nói nôm na là ăn thịt uống máu Chúa] chỉ là có tính cách tượng trưng để nhớ lại Giê-su [không như giáo hội dạy: mẩu bánh đích thực là thịt Chúa, và rượu lễ đích thực là máu Chúa]
90% những người dạy về tôn giáo bác bỏ giáo lý của giáo hội về ngừa thai.
53% tin rằng một tín đồ Ca-tô có thể phá thai và vẫn là một con chiên ngoan đạo
65% tin rằng tín đồ Ca-tô có thể ly dị và tái hôn.
75% tin rằng một tín đồ ngoan đạo không cần phải đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật.
[Indicative beliefs
70% of all Catholics in the age group 18 to 44 believe the Eucharist is a "symbolic reminder" of Jesus.
90% of lay religious teachers reject church teaching on contraception.
53% believe a Catholic can have an abortion and remain a good Catholic.
65% believe that Catholics may divorce and remarry.
75% believe one can be a good Catholic without attending mass on Sundays. ]

III

Sau đây là tóm tắt vài điểm chính trong bản tin của VietCatholic:

Ngày 29 tháng 5, 2008, Giáo hoàng Benedict XVI lý luận trước hội nghị các giám mục Ý rằng một quốc gia dân chủ nên hỗ trợ các trường học Ca-tô. Giáo hoàng nói về giáo dục và truyền đạo, cho rằng cuộc khủng khoảng giáo dục là vấn đề “trao truyền đức tin cho các thế hệ sau.”

Giáo hoàng thường nói về sự cần thiết cung cấp cho giới trẻ một sự đào tạo đầy đủ về đạo đức và văn hóa. Ông ta quan niệm giáo dục phải đi liền với truyền đạo và nói: “Không có vấn nạn xã hội hay về con người nào có thể giải quyết nếu Thiên Chúa không trở lại làm trọng điểm trong đời sống của chúng ta.”

VietCatholic News (Thứ Năm 29/05/2008 21:32)

Rome, May. 29, 2008 - In a May 29 talk to the Italian bishops' conference, Pope Benedict XVI (bio - news) argued that a democratic state should support Catholic schools.
Since the government invests resources in many different projects, the Holy Father reasoned, "there does not appear to be any justification for excluding adequate support for the work of Church institutions in the field of education." Public investment in Catholic schools, he said, "could not fail to produce beneficial effects" for secular society.
The Italian bishops are holding their 58th general assembly in Rome this week, with the meetings taking place in the Vatican Synod hall. The Pope spoke to the bishops about the main topics for this meeting: education and evangelization.
Italy today faces an "educational crisis," the Pope warned, raising a theme that he has mentioned frequently during his pontificate. The Pontiff has repeatedly spoken about the need to provide young people with adequate moral and cultural formation. From the Catholic perspective, he said, the educational crisis involves "the transmission of the faith to new generations."
Educators and pastors must battle with a culture of relativism, which "puts God within parentheses and discourages all true commitment," the Pope told the Italian hierarchy. To overcome that sort of opposition, he said, the Church needs to muster greater "evangelical energy" and to demonstrate the joy of faith.
The Pope said that he could see signs of a desire for change in Italian society-- signs of a new willingness to recognize the need for moral integrity and commitment. The Church has a special role to play in that societal recovery, he said, adding: "No other human and social problem can truly be solved if God does not return to the center of our lives."

Bình Luận Của TCN: Qua bài phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang của đài Tiếng Quê Hương, tôi được biết một trong những điều kiện mà Vatican đưa ra để tiến hành việc bang giao với Việt Nam là phải để cho Vatican mở trường học ở Việt Nam. Đây là sách lược toàn cầu của Vatican ở bất cứ nơi nào mà Vatican có thế lực và được các giáo hội bản địa thi hành. Ở Âu Châu trước đây, Ca-tô Giáo nắm toàn quyền giáo dục trẻ em nhưng từ thế kỷ 19, Vatican đã mất đi quyền lực này.

Thật vậy, từ thế kỷ 19, ở nước Pháp, các trí thức Pháp đã nhận thức được sự quan trọng của một nền giáo dục khai phóng cho nên đã cương quyết chống lại nền giáo dục của Ca Tô Giáo Rô Ma mà họ cho rằng đã "dạy dỗ những đứa trẻ để chống lại tổ quốc của chúng và cản sự tiến bộ của chúng" (Élever des enfants contre leur pays et contre leur temps) và họ đã thành công trong việc "Giật con em ra khỏi vòng tay giáo dục của các linh mục, vạch trần những đạo đức giả của Giáo hội” (Arracher l'enfant au moine, dévoiler les hypocrisies de l'Église) và nhà đại văn hào Victor Hugo đã đưa ra nhận định:

"Nền văn minh, ánh sáng này, có thể bị tắt đi bởi hai sự chìm ngập, hai sự xâm lăng nguy hiểm đối với nền văn minh, (đó là) sự xâm lăng của các quân lính và sự xâm lăng của các linh mục. Sự xâm lăng của các quân lính đe dọa mẹ chúng ta: tổ quốc; sự xâm lăng của các linh mục đe dọa con chúng ta: tương lai"

(La civilisation, cette lumière, peut être éteinte par deux modes de submersion, deux invasions lui sont dangereuses, l'invasion des soldats et l'invasion des prêtres. L'une menace notre mère, la patrie; l'autre menace nos enfants, l'avenir.)

Mục đích mở trường học của Ca-tô Giáo Rô-ma là gì? Để kiếm tiền và dụ người vào đạo bằng chính sách nhồi sọ. Thực chất những trường học, nhà thương, và viện mồ côi, hội cứu tế, viện dục anh v..v... của Ca Tô Giáo Rô Ma được tóm tắt trong nhận định sau đây của B. S. Rajneesh, trong cuốn "Linh Mục và Chính Trị Gia: Những Mafia của Linh Hồn" ("Priests & Politicians: The Mafia of the Soul", The Rebel Publishing House GmbH, Cologne, West Germany, 1987, trg. 25):

"Nếu con người nghèo đói, họ có thể dễ bị dụ vào KiTô giáo, đặc biệt là Ca Tô giáo. Những trường học, nhà thương, và viện mồ côi của họ chẳng qua chỉ là những xưởng để cải đạo người ta trở thành tín đồ CaTô."

(If people are poor and hungry, they can be easily converted to Christianity, particularly into the Catholic Church. Their schools, their hospitals, their orphanages are nothing but factories for converting people into Catholics.)

Riêng ở Việt Nam, tưởng chúng ta cũng nên nhắc lại sách lược của các giáo sĩ thừa sai dùng trường học, giáo dục để Ca Tô hóa Việt Nam và sớm đưa Việt Nam vào vòng đô hộ của Pháp như thế nào.

Trong bài "Le Rôle Des Missionnaires au Viêt-Nam: Un Décalage Dans Le Temps et Dans L'Espace", đăng trong cuốn "Catholicisme et Sociétés Asiatiques", Yoshiharu Tsuboi đã viết một cách rõ ràng về sách lược trên như sau:

"Trên bình diện tôn giáo, điều cấp bách là phải xây dựng tổ chức những giáo xứ và củng cố sự hiện diện của Ca Tô Giáo bằng hệ thống giáo dục... Giám mục Puginier ý thức được điều này và đã củng cố được nhiều cơ sở tại các nơi đây. Trong nhiệm vụ của ông, nghĩa là, trong giáo xứ Bắc Kỳ miền tây, mỗi linh mục phải nuôi nấng tại nhà một số trẻ nào đó, được chọn từ những gia đình Ki Tô tốt nhất, trong những đứa thông minh nhất và có khả năng nhất. Từ 10 hoặc 12 tuổi, những đứa trẻ trên bắt đầu phục vụ ông linh mục và học chữ Nho và chữ la tinh nhập môn. Tới 16 hay 18 tuổi, chúng được lọc lựa, tùy theo khả năng và hạnh kiểm, để hoặc gửi đi các trường Dòng, hoặc vào các trường huấn luyện những người dạy giáo lý, hoặc ở lại tiếp tục phục vụ ông linh mục...

Một mặt khác các ông linh mục cũng dạy học trò chủ thuyết Ki Tô, dùng chữ Quốc Ngữ. Dùng Quốc Ngữ có hai lợi điểm: một mặt có thể tách biệt tinh thần triết lý của Khổng Tử, mặt khác chữ này dễ học hơn.

Nếu những linh mục trong Phái bộ Truyền Giáo Hải Ngoại đặt nặng tầm quan trọng vào giáo dục những đứa trẻ ở trong các trường học của họ, đó là vì họ nghĩ rằng quyền lợi truyền giáo thì đồng nhất với quyền lợi thuộc địa. Đối với họ, trường học là phương tiện tốt nhất để truyền bá niềm tin Ki Tô nhưng cũng là để củng cố chính sách thuộc địa. Chúng ta hãy dẫn chứng thêm nơi đây lời của linh mục Wibaux:

"Thật ra không có cách nào khác để đi vào dân bản xứ, những con dân của Pháp Quốc, mau hơn và hữu hiệu hơn...Sự thành lập những trường học đích thực là cách tốt nhất để thuộc địa hóa và tuyên truyền tôn giáo.”

(Sur le plan religieux, l'urgent est de construire l'organisation des vicariats et d'affermir la présence catholique notamment par le système d'éducation...Mgr Puginier en a pris conscience et consolide les institutions en place. Dans sa mission, c'est à dire, dans le vicariat du Tonkin occidental, chaque prêtre doit élever chez lui un certain nombre d'enfants, choisis dans les meilleurs familles chrétiennes, parmi les plus intelligents et les plus doués. Ces enfants commencent, vers dix ou douze ans, à servir le père et à étudier les caractères chinois et les premiers éléments du latin. Vers l'âge de seize à dix-huit ans, ils sont sélectionnés, selon leurs capacités et leur conduite, soit pour entrer au séminaire, soit pour entrer à l'école des catéchistes, soit pour rester au service du père.

Par ailleurs, les missionnaires apprennent aux élèves la doctrine chrétienne en employant le quoc ngu. Le Quoc ngu présente deux avantages: d'une part, il concourt à détacher les esprits de la philosophie confucéenne, d'autre part, cette transcription est plus facile à assimiler que les caractères chinois...

Si les pères des Missions Étrangères accordent beaucoup d'importance à l'enseignement des enfants dans leurs écoles, ils pensent alors que l'intérêt de l'évangélisation s'identifie à celui de la colonisation. Pour eux, les écoles constituent le meilleur moyen de propagation de la foi chrétienne mais aussi d'affermissement de la colonisation. Citons, de nouveau, le père Wibaux: "Il n'y a pas d'ailleurs d'autre moyen d'entrer plus rapidement et plus efficacement en relations avec les indigènes, sujets de la France... La création des écoles est donc le meilleur moyen de colonisation et de propagande religieuse.")

Và chúng ta cũng nên nhớ, dưới thời Ngô Đình Diệm, cuốn Lịch Sử Thế Giới của Nguyễn Hiến Lê bị cấm, và ở trường Đại Học Văn Khoa thì giới khoa bảng gia nô Ca-tô, “những nhân viên giảng huấn nổi tiếng về quan điểm phiến diện, hạn hẹp, và kỳ thị đối với Phật Giáo” (Báo Độc Lập, số 1538, thứ Năm 09-01-1975, trang 1) đã dùng cuốn Sãi Vãi làm sách giáo khoa, một cuốn sách chứa những giọng đùa cợt thô bỉ, thiếu tế nhị, điệu bộ và cử chỉ lố lăng, và thiếu giáo dục để đả phá Phật Giáo? Đó là khi Ca-Tô giáo chưa nắm đủ quyền lực quốc gia.

Giáo hoàng nói đến vấn đề đào tạo tín đồ về đạo đức và văn hóa qua các trường học Ca-tô. Nhưng đó chỉ là câu nói trên đầu môi chót lưỡi, vì thực tế đã cho chúng ta thấy trong cả hai lãnh vực này, giáo hội đã thất bại nặng nề. Hơn 5000 linh mục trên nước Mỹ, những người được giáo hội đặc biệt đào tạo như là “Chúa thứ hai”, bị truy tố vì can tội loạn dâm với nữ tín đồ và trẻ em vị thành niên cho chúng ta thấy thực chất việc đào tạo đạo đức trong Ca Tô Giáo ở cấp lãnh đạo. Mặt khác, nền giáo dục Ca-tô trong các trường học đặt nhẹ mục đích giáo dục hay giảng dạy văn hóa, mà lợi nhuận là mục tiêu chính. Ở nước Mỹ, nơi nào không còn kiếm được tiền qua các trường học thì giáo hội không ngần ngại đóng cửa các trường học Ca-tô. Vài thống kê cho chúng ta thấy thực trạng các trường Ca-tô trên đất Mỹ:

Một nửa số trường trung học Ca-tô ở Mỹ đã phải đóng cửa từ năm 1965, Số học sinh giảm từ 700000 xuống còn 386000.

Tình trạng các trường tiểu học còn tệ hơn. Khoảng 400 trường đã phải đóng cửa, và số học sinh sụt từ 4.5 triệu xuống dưới 2 triệu.

[Catholic schools.
Almost half of all Catholic high schools in the United States have closed since 1965.
The student population has fallen from 700,000 to 386,000.

Parochial schools have suffered even worse. Some 4,000 have shut down, and the number of pupils has fallen from 4.5 million to just under 2 million.]

Một thông tin khác của Mary Ann Zehr viết như sau:

Sự xôn xao về những trường học Ca-tô phải đóng cửa cuối niên học này đã làm tăng thêm số những trường học Ca-tô phải đóng cửa – hầu hết các trường này phục vụ cho những gia đình lợi tức kém ở thành thị.

Nêu lên những khó khăn về tài chánh và số học sinh sút giảm, các viên chức của giáo hội loan báo có nhiều trường Ca-tô phải đóng cửa năm nay, gồm cả những trường học ở Chicago, Philadelphia, Buffalo, Boston, Cleveland, và Pittsburg. Tin tức này là tiếp theo một năm có số trường học Ca-tô bị đóng cửa cao nhất trong nhiều năm qua

[Catholic School Closures On Increase]
By Mary Ann Zehr

The flurry of Roman Catholic schools set to close at the end of this school year fuels a two-year rise in the number of Catholic schools—most of them serving low-income urban families—shutting their doors.

Citing financial difficulties and falling enrollments, officials have announced numerous Catholic school closures this year, including schools in Chicago, Philadelphia, Buffalo, Boston, Cleveland, and Pittsburgh. The news follows a year that marked the highest number of Catholic school closures in the past several years.]

Tại sao lại có tình trạng trường học Ca-tô phải đóng cửa hàng loạt trên một đất nước mà Ca-tô giáo chiếm 22-25% dân số? Có nhiều lý do, nhưng lý do chính là tín đồ không còn chịu theo học tại các trường học Ca-tô nữa, vì tốn kém và giá trị trí thức không như các trường học công cộng (Public schools). Do đó trường học không mang lại lợi nhuận và giáo hội không quan tâm vào việc đào tạo giáo dục cho con chiên.

Louis Giusto viết trên Internet ngày 20 tháng 12, 2007:

Các giám mục Ca-tô Mỹ có bao giờ làm được điều gì đúng không? Nhiều triệu đô la dùng để dàn xếp những vụ kiện linh mục loạn dâm nhưng không chi một xu nào cho những trường tiểu học Ca-tô. Các trường tiểu học Ca Tô là cái ống vận chuyển để kéo toàn thể các gia đình vào trong đời sống của giáo xứ.

[Have American Catholic bishops ever gotten anything right? Millions to settle pedophile priest law suits but not one penny for primary catholic education… Catholic primary schools are the pipeline. They draw entire families into parish life.]

Chúng ta cũng nên biết là tình trạng trường học Ca-tô phải đóng cửa không chỉ có trên nước Mỹ mà còn xẩy ra ở khắp Âu Châu. Tòa Thánh, tuy tiền rừng bạc bể, nhưng lại không chịu bỏ tiền ra đầu tư vào giáo dục con chiên mà lại muốn chính quyền Ý phải phần nào cáng đáng gánh nặng này. Tôi không tin rằng ý muốn của Giáo hoàng sẽ được đáp ứng bởi vì chính quyền Ý ngày nay là một chính quyền thế tục (secular) không phải là chính quyền Ca-tô.

Cuộc khủng khoảng của Ca-tô Giáo Rô-ma không chỉ trong lãnh vực các trường học mà còn ở trong mọi lãnh vực khác liên quan đến vấn đề giáo dục con chiên như chúng ta thấy trong những con số sau đây.

Số linh mục đã giảm từ 58000 xuống 45000. Tới năm 2020 chỉ còn 31000 và một nửa là trên 70 tuổi.

Năm 1965, có 1575 linh mục mới được tấn phong. Năm 2002, con số là 450. Khoảng 3000 giáo xứ nay không có linh mục. [Hi vọng mười mấy linh mục Mít mới được tấn phong có thể bù đắp cho con số này]

Trong khoảng từ 1965 đến 2002, số người vào học trường Dòng sụt giảm từ 49999 còn 4700, một sự suy giảm trên 90%. 2/3 số trường Dòng mở năm 1965 nay đã phải đóng cửa.

Số nữ tu Ca-tô (Sơ), 180000 năm 1965, đã sút giảm 60%. Tuổi trung bình ngày nay là 68. Số nữ tu giáo viên giảm 94% từ Vatican II.

Số người trẻ học để làm linh mục dòng tên giảm 90% từ Vatican II.

Năm 1958, cứ 4 người thì có 3 đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, nay chỉ còn 1.

[By Patrick J. Buchanan, April 11, 2005 :

The number of Catholic priests has fallen from 58,000 to 45,000. By 2020, there will be 31,000 and half will be over 70.

In 1965, 1,575 new priests were ordained. In 2002, the number was 450. Some 3,000 parishes are today without priests.

Between 1965 and 2002, the number of seminarians fell from 49,999 to 4,700, a decline of over 90 percent. Two-thirds of the seminaries open in 1965 have since closed their doors.

The number of Catholic nuns, 180,000 in 1965, has fallen by 60 percent. Their average age is now 68. The number of teaching nuns has fallen 94 percent since the close of Vatican II.

The number of young men studying to be Jesuits has fallen by 90 percent and of those studying to be Christian Brothers by 99 percent. The religious orders seem to be dying out in America.

Where three in four Catholics attended mass on Sunday in 1958, today one in four do.]

Với tình trạng suy thoái trầm trọng ở phương trời Âu Mỹ như trên, không lạ gì khi giáo hội toan tính gia tăng nỗ lực truyền đạo sang Á Châu, nơi đây trong nhiều miền, dân trí còn thấp kém và đời sống vật chất còn khó khăn, rất dễ dàng làm mồi cho các giáo hội địa phương để bành trướng qua những sách lược như mở trường học, lập cơ quan từ thiện, mở nhà thương v..v...

Trước sự đòi hỏi mở trường của Vatican, tôi nghĩ Nhà Nước Việt Nam nên nghiên cứu kỹ vấn đề này để tránh việc đưa con em của mình vào guồng máy Ca-tô, hay nói khác đi vào một ngục tù tâm linh, làm nô lệ cho Vatican, từ đó đi đến phản bội quốc gia chỉ là một bước vì cái “đức vâng lời” trong Ca-tô Giáo Rô-ma.

Chỉ cho phép mở trường nơi nào có nhu cầu thiết thực và tiện nghi trường sở, chương trình học, sách giáo khoa, thành phần giảng viên phải theo đúng những tiêu chuẩn của quốc gia. Giảng viên phải tốt nghiệp sư phạm được Nhà Nước công nhận để dạy cấp tiểu học và trung học, phải hội đủ tiêu chuẩn bằng cấp để dạy đại học, và Nhà Nước phải thường xuyên kiểm soát chương trình học, nội dung giảng dạy, khuyến cáo học sinh phải báo cáo những lời tuyên truyền đạo ở trong lớp ra ngoài chương trình hay bộ môn học, và có biện pháp ngăn chận hay trừng phạt. Đây là vấn đề giáo dục con em người dân trong nước, có ảnh hưởng đến tương lai và sự tồn vong của quốc gia, không phải là vấn đề tự do tôn giáo, hay tự do tín ngưỡng.

g yeu quy dang lam thuong truc nha khaïch



place comments:
18 months ago josngochuan   0
day la noi tiep don nhung nguoi ngheo, nhung nguoi lang thang co nho va tro giup nhung nguoi co hoan canh kho khan khi ve Hanoi.
18 months ago hs toi ac cua GH Thua sai   +1
Hồ Sơ Tộc Ác Của Hội Thừa Sai Paris
Và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam
Trong Lịch Sử Mất Nước Hồi Cuối Thế Kỷ 19

Charlie Nguyễn



Nếu lấy năm 1533 làm cái mốc đầu tiên về sự có mặt của đạo Công giáo trên đất nước Việt Nam thì tới nay (2003), Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có 470 năm lịch sử. Trong chiều dài thời gian gần 5 thế kỷ có khoảng hơn bốn thập niên trong nửa cuối thế kỷ 19 (1852-1884) là thời gian thăng trầm, phức tạp và ô nhục nhất trong giáo sử Công giáo Việt Nam. Đó chính là thời gian các giáo sĩ trong Hội Thừa Sai Paris và khoảng 600,000 giáo dân đã tích cực giúp cho thực dân Pháp hoàn thành dễ dàng cuộc xâm chiếm Việt Nam và mau chóng bình định lãnh thổ để áp đặt nền thống trị lên dân tộc Việt Nam trong hơn 80 năm.

Những gì đã xảy ra trước và trong quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp đã khẳng định rằng: các giáo sĩ trong Hội Thừa Sai Paris đã chủ động tạo ra cớ cho cuộc can thiệp võ trang của Pháp vào Việt Nam. Sử gia Pháp Georges Coulet đã viết trong tác phẩm của ông Cultes et Religions de l’Indochine Annamite (Saigon, p. 99) như sau: “ Thiên Chúa giáo đã mở cửa cho quân đội Pháp và đã là nguyên nhân trực tiếp của cuộc xâm lược đất nước này”.

Suốt thời gian giặc Pháp đô hộ, danh dự của tổ quốc Việt Nam đã bị xỉ nhục nặng nề, sinh mạng và tài sản của nhân dân bị quân địch xâm phạm nghiêm trọng. Đây là những vết hằn lịch sử khó có thể xóa mờ trong ký ức của mọi người Việt yêu nước. Lịch sử mất nước của dân tộc Việt Nam vào cuối thế kỷ 19 gắn liền với sự có mặt của Hội Thừa Sai Paris - một công cụ mở rộng Vatican, đồng thời cũng là một công cụ mở rộng thuộc địa của thực dân Pháp. Sát cánh với Hội Thừa Sai Paris là Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vào thời điểm đó đã hiện nguyên hình là một tập đoàn Việt gian bán nước theo giặc, trắng trợn phản bội Tổ Quốc.

Việc dựng lại một cách chân xác giai đoạn thăng trầm của lịch sử mất nước ô nhục đó không phải là chuyện dễ dàng vì các sử liệu về giáo sử Công giáo Việt Nam còn lưu lại ở Việt Nam rất hiếm hoi. Nhưng nước Chúa của một sự may mắn đã đến với chúng ta là sử gia Patrick J.N. Tuck, người Ấn Độ, giáo sư sử học tại đại học Liverpool (Anh Quốc) đã bỏ ra nhiều công sức sưu tầm các tư liệu liên quan đến các hoạt động của các giáo sĩ thừa sai Pháp và các chính sách của đế quốc tại Việt Nam từ 1857 đến 1914.

Tất cả các tài liệu lịch sử quí giá này đều là những tài liệu do chính văn khố của Hội Thừa Sai Paris cung cấp. Đây là một món quà tinh thần quí giá cho những ai hằng thao thức tìm hiểu giáo sử Công giáo Việt Nam. Bộ sưu tập tài liệu về Hội Thừa Sai Paris của sử gia Patrick J.N. Tuck được viết bằng Anh ngữ dưới tựa đề “French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam 1857-1914” do Liverpool University Press xuất bản tại Anh Quốc năm 1987. Bản dịch Việt ngữ do UBĐKCGYNVN/TP.HCM thực hiện và phổ biến năm 1989 dưới tựa đề: “Thừa Sai Công Giáo Pháp và các chính sách của dế quốc tại Việt Nam 1857-1914”. (Mỗi khi trích dẫn tài liệu này, chúng tôi xin ghi tắt TSCG) . Ngoài tư liệu của Patrick Tuck, chúng tôi còn tham khảo thêm sách “Sự Du Nhập của Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19” của giáo sư Nguyễn Văn Kiệm với sự hợp tác của Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo và Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam (mỗi khi trích dẫn sách này, chúng tôi xin ghi vắn tắt SDN/TCG).

Cả hai cuốn sách nói trên cung cấp cho chúng ta rất nhiều bằng chứng lịch sử về các hoạt động đầy tội ác của các giáo sĩ thuộc Hội Thừa Sai Paris trong nỗ lực vận động Vatican và hoàng gia Pháp (Napoleon III) xâm chiến Việt Nam hầu thực hiện hai mục tiêu vừa truyền giáo vừa xâm chiếm thuộc địa.

I. Sự thành lập hội Thừa Sai Paris và tiến trình tội ác của hội này đối với dân tộc Viêt Nam.

Sáng kiến đầu tiên đưa đến việc thành lập hội Thừa Sai Paris là do Alexandre de Rhôde. Vào năm 1652 và 1653, Alexandre de Rhôde về Âu châu vận động Vatican và Pháp thành lập hội Thừa Sai gồm toàn giáo sĩ người Pháp để gửi sang Viễn Đông truyền đạo và mở rộng ảnh hưởng của Pháp tại vùng này. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, ảnh hưởng của Bồ Đào Nha tại Á Châu còn mạnh. Đại sứ Bồ Đào Nha bên cạnh Vatican cực lực phản đối việc thành lập Hội Thừa Sai Pháp và hăm dọa sẽ bắt bỏ tù các giáo sĩ đến Á Châu mà không có phép của hoàng gia Bồ. Phải đợi đến năm 1658, khi hoàng gia Bồ suy yếu mọi mặt và không còn đủ sức tài trợ cho cuộc truyền giáo tại Á Châu, nên đã bị Tòa Thánh chính thức thu hồi “độc quyền truyền giáo” (Padroado).

Hội Thừa Sai Paris được chính thức thành lập năm 1663 gồm toàn các giáo sĩ người Pháp thuộc ngành triều (secular), tức là các tu sĩ chuyên việc trông coi giáo dân tại các giáo xứ. Kể từ đó, mỗi khi thiết lập một giáo phận mới tại Á Châu, Vatican đều giao các giáo phận mới cho các giáo sĩ thừa sai Pháp cai quản. Mặc dầu hoạt động của các thừa sai đều thuộc về tôn giáo, nhưng chính quyền Pháp đã ra lệnh cho bộ Ngoại Giao, bộ Thương Mại và nhất là bộ Hải Quân và Thuộc Địa phải tích cực yểm trợ cho các giáo sĩ thừa sai (TSCG, trang 27). Ông Bonifacy, tác giả cuốn “Les Debuts du Christianisme en Annam” xuất bản tại Hà-Nội năm 1930 đã viết: “Vai trò của Alexandre de Rhôde trong việc thành lập hội Thừa Sai Paris đã đưa giáo hội Công giáo Đàng Trong và Đàng Ngoài ra khỏi vòng kiểm soát của người Bồ Đào Nha, và đem lại cho người Pháp vai trò quan trọng nhất ở bán đảo Đông Dương” p. 16-17 (SDN/TCG, trang 123).


18 months ago hs toi ac cua GH Thua sai   +1

Việc thành lập hội Thừa Sai Paris năm 1663 không phải là một hành vi tôn giáo thuần túy mà là một nhu cầu cần thiết của chủ nghĩa thực dân Pháp thời đó, vì hội này do chính phủ Pháp thành lập và tài trợ để làm công cụ thực hiện tham vọng bành trướng thuộc địa ở Viễn Đông. Danh từ “giáo sĩ thừa sai” (missionaries) được định nghĩa là người được cử ra nước ngoài để thực hiện những công việc do cấp trên sai phái. Cấp trên ở đây không hẳn chỉ là Toà Thánh La Mã mà chủ yếu là quốc gia đã lập ra hội Thừa Sai. Tự Điển Bách Khoa Hoàn Vũ (Encyclopedia Universallis) của Pháp xuất bản năm 1990 cũng thêm định nghĩa Hội Thừa Sai (Mission) như sau: “Hội Thừa Sai cũng tiến hành nhiệm vụ thực dân, cũng chinh phục và tiêu diệt, tham gia các cuộc chinh phạt để đoạt lấy quyền uy vinh quang và lợi tức. Điều quan trọng nhất của Hội Thừa Sai là đồng hóa văn hóa của các xứ bản địa” (SDN/TCG, trang 302).

Gần hai thế kỷ sau ngày thành lập, đến đầu thế kỷ 19 có 3 biến cố xảy ra làm cho Hội Thừa Sai Paris trở thành hội Truyền Giáo mạnh nhất của Giáo hội Công giáo:

- Biến cố 1: Vào năm 1822, các nhà tư bản Pháp thành lập tại Lyon một tổ chức lấy tên là “Hội Truyền Bá Đức Tin”.Đây là một trung tâm tài chánh lớn lao yểm trợ các hoạt động của các giáo sĩ thừa sai tại Viễn Đông. Năm 1839, quĩ của hội lên tới hai triệu francs.
- Biến cố 2: Năm 1839, giáo hoàng Gregory XVI chính thức thừa nhận hội Thừa Sai Paris là cơ quan truyền giáo chủ lực tại Viễn Đông. Tuy nhiên, trọng tâm trách nhiệm của Hội là Việt Nam.
- Biến cố 3: Cuộc đảo chánh do các giáo sĩ Pháp chủ trương năm 1851 đã đưa Louis Napoleon lên ngôi hoàng đế (tức Napoleon III). Sự kiện này đưa đến sự liên kết mật thiết giữa hoàng gia Pháp và Vatican. Điển hình là vụ Vatican và Pháp dàn dựng màn kịch bịp bợm “Phép lạ Lộ Đức” năm 1858 (xin đọc webpage Giao Điểm tháng 8, 2003).

A.- Các giáo sĩ thừa sai tích cực vận động Vatican và chính quyền Pháp xâm chiếm Việt Nam.

- Các giáo sĩ thừa sai Paris giao du thân mật với hoàng hậu Eugénie, họ đã lợi dụng hoàng hậu xúi giục Napoleon III xâm chiếm Việt Nam từ năm 1852. Do đó, Napoleon III đã đích thân ra lệnh cho phái bộ ngoại giao Pháp tại Trung Quốc phải thâu thập các tài liệu về công cuộc truyền giáo tại Đông Dương (TSCGP, trang 53).

- Đầu tháng 5/1857, giám mục Pellerin và linh mục Huc đến Paris trình bày kế hoạch đánh chiếm Đông Dương tại Ủy Ban Thuộc Địa Pháp. Ngày 21-5-1857, giám mục Pellerin và linh mục Huc được Napoleon III tiếp kiến tại hoàng cung. Sau đó, vào tháng 6 và tháng 8 năm 1857, Pellerin và Huc lại được Napoleon tiếp kiến thêm hai lần nữa. Toàn bộ kế hoạch xâm lược Việt Nam do hai giáo sĩ thừa sai này đề nghị đều được giáo hoàng Pio IX và Napoleon III tán thành (TSCGP, trang 554).

Giám mục Pellerin sinh tại Pháp năm 1813, được cử làm giám mục tại Saigon năm 1844. Năm 1857, y về Pháp vận động chiếm Việt Nam. Năm 1859, Pellerin trở lại Việt Nam trên chiếm hạm của Rigault de Genouilly, nhân dịp này, y xúi giục đô đốc Genouilly đánh chiếm Đà Nẵng, nhưng Genouilly không chịu vì y muốn chiếm Saigon trước đã. Sau đó, Pellerin được hội Thừa Sai đổi về Penang dạy học, y chết tại đó năm 1862, thọ 49 tuổi (TSCGP, trang 554).

Linh mục Huc sinh tại Pháp năm 1814. Trong các năm 1844-1846, linh mục Huc mạo hiểm đến giảng đạo tại Tây Tạng và miền Tân Cương (Trung Quốc). Năm 1850, linh mục Huc xuất bản mấy cuốn sách kể chuyện mạo hiểm giảng đạo tại các xứ huyền bí Á Châu, đồng thời viết sách kêu gọi chính quyền Pháp xâm chiếm Triều Tiên, Madagascar và Việt Nam làm thuộc địa. Napoleon III đã đọc và rất chú ý đến các sách của linh mục Huc. Do đó, sau khi tiếp xúc với linh mục Huc năm 1857 tại hoàng cung, Napoleon II đã cho thành lập “Ủy Ban Brenier” để nghiên cứu đề nghị của linh mục Huc. Trong khi đó, giám mục Pellerin đến thuyết giảng tại nhà thờ Notre Dame de Paris và vận động tờ báo L’Univers ủng hộ việc xâm chiếm Việt Nam làm thuộc địa.

Tháng 5/1857, ủy ban Brenier lập bản phúc trình đề nghị hoàng đế Napoleon III áp đặt chế độ bảo hộ lên Việt Nam để phục vụ lợi ích của nước Pháp. Ủy ban này đề nghị thực hiện một cuộc viễn chinh với một hạm đội gồm 6 tàu chiến và 2600 thủy quân, kinh phí 4 triệu quan. Quân viễn chinh sẽ được sự yểm trợ của hải quân Pháp đang đóng tại Trung Quốc và sự hỗ trợ tích cực của 600,000 giáo dân công giáo bản địa.

Hoàng đế Napoleon III chấp thuận đề nghị của ủy ban Brenier ngày 21-9-1857. Mấy tháng sau, Napoleon III giao nhiệm vụ cụ thể cho đô đốc Rigoult de Genouilly để thực hiện cuộc bảo hộ của Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam (TSCGP, trang 57-61). Cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài từ cuối 1857 đến tháng 2/1861, Pháp chiếm trọn Côn Đảo, Biên Hòa, Bà Rịa, Vĩnh Long và toàn miền Đông Nam Kỳ.

B. – Quân dội viễn chinh Pháp và các giáo sĩ thừa sai tại Việt Nam có cùng mục tiêu chung.

- Cơ quan tối cao điều hành cuộc viễn chinh xâm lược Việt Nam là bộ Hải Quân và Thuộc Địa Pháp, trụ sở tại Paris, do Chasseloup Laubat làm bộ trưởng. Chasseloup Laubat công khai tuyên bố phải biến xứ Nam Kỳ thành
18 months ago ban chat no le cuaGHCG   +1
một Philippines thứ hai tại Á Châu. Nói cách khác, biến Nam Kỳ thành một xứ Công giáo là một giải pháp tốt nhất để ổn định thuộc địa một cách lâu dài.

Như vậy rõ ràng là quan điểm của bộ Hải Quân và Thuộc Địa của chính quyền Pháp coi việc Công giáo hóa Nam Kỳ là một nhu cầu chính trị (TSCGP, trang 123). Để thực hiện mục tiêu này, bộ Hải Quân và Thuộc Địa Pháp đã đưa ra hai quyết định sau đây:

1. Chính quyền Hải Quân Pháp nhận trách nhiệm thành lập một hệ thống các giáo xứ Công Giáo tại Nam Kỳ.

2. Các giáo sĩ thừa sai Pháp được coi là những công chức phục vụ nhà nước nên họ được hưởng lương hàng năm. Năm 1864, nhà nước thuộc địa Pháp đã trả cho các giáo sĩ thừa sai 40,000 Francs; năm 1879 tăng lên 145,000 Francs. (TSCGP, trang 134-135).

C.- Các giáo sĩ thừa sai tích cực giúp thực dân Pháp mau chóng bình định lãnh thổ thuộc địa.

1.- Giám mục Puginier (1835-1892): Dựa vào thế lực mạnh của hội Thừa Sai Paris đối với chính quyền Pháp, giám mục Puginier đã tỏ thái độ coi thường các quan chức thuộc địa tại Việt Nam. Vào tháng 7-1874, giám mục Puginier viết thư mắng đô đốc Dupré đã để cho thuộc hạ là Francis Garnier rút quân khỏi Bắc Việt. Tháng 8-1885, giám mục Puginier đòi tướng Courcy phải bắt Nguyễn Văn Tường bỏ tù. Giám mục Puginier đưa ra chủ trương ổn định thuộc địa bằng cách Công giáo hoá thuộc địa. Y tuyên bố: “ Khi nào Bắc Kỳ biến thành một xứ Công giáo thì nó sẽ là một nước Pháp nhỏ” (TSCGP, trang 560-562)

Puginier đòi hỏi chính quyền thuộc địa Pháp phải tiêu diệt giới nho sĩ Việt Nam (Văn Thân) vì họ được dân chúng kính trọng, họ không chấp nhận sự đô hộ của Pháp và chẳng ai trong số họ chịu theo đạo.

Năm 1886, giám mục Puginier ra lệnh cho linh mục Trần Lục ở Phát Diệm tăng viện cho Pháp 5,000 giáo dân binh để phá chiến lũy Ba Đình của Đinh Công Tráng.

Giám mục Puginier là người đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trên chính sách bình định Việt Nam của thực dân Pháp. Chính ông ta đã cung cấp cho Pháp rất nhiều tin tức tình báo do giáo dân khắp nơi thu thập báo cáo về các cuộc phản công của triều đình Huế và các cuộc binh biến của quân kháng chiến.

Puginier chết tại Hà Nội năm 1892. Hắn được chính phủ Pháp truy tặng Bảo Quốc Huân Chương và truy phong Sĩ Quan Danh Dự của quân đội Pháp để xác nhận công lao to lớn của giáo sĩ thừa sai này trong việc Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ hồi cuối thế kỷ 19.

2.- Giám mục Gauthier (1810-1877) : Gauthier lấy tên Việt là Ngô Gia Hậu, được cử làm giám mục Nam Đàng Ngoài từ năm 1846, có 66,350 giáo dân rải rác trong 346 xứ dạo (TSCGP, trg 528-530).

Trong bức thư gửi đô đốc Dupré ngày 15-1-1874, giám mục Gauthier và Puginier đã thúc giục chính quyền thuộc địa Pháp thiết lập một chính phủ Công giáo tại Bắc Việt (theo “Christianisme et Colonialisme au Vietnam 1857-1914 par Cao Huy Thuần – Paris 1960, p. 306).

Năm 1874, Gauthier khuyến khích các làng Công giáo tổ chức các đội dân quân võ trang, sau đó ra lệnh cho họ kéo quân đi đánh phá các làng bên lương ở Nghệ An và Hà Tĩnh.

Giám mục Gauthier và Puginier có nhiều tên đệ tử trung thành xuất sắc, trong số đó có Nguyễn Trường Tộ (theo hầu Gauthier 10 năm) và hai linh mục Nguyễn Hoằng và Nguyễn Điều.

II. Tội Ác bán nước theo giặc của Giáo hội Công giáo Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ 19.

18 months ago ban chat no le cuaGHCG   +1
Vào nửa cuối thế kỷ 19, có khoảng 600,000 người Việt Nam đã mù quáng đi theo tôn giáo lạ mang tính chất vong bản. Họ đã dễ dàng lìa bỏ nếp sống văn hóa truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, trước khi Pháp đổ quân xâm chiếm Việt Nam, những người Công giáo được coi là những công dân lầm lạc vì nhẹ dạ và ngu dốt nên Triều Đình và nhân dân Việt Nam không nỡ ra tay tiêu diệt họ. Nhưng kể từ khi Pháp chiếm Đà Nẵng năm 1856, đa số giáo dân Công giáo đã trắng trợn ra mặt theo giặc và phản bội Tổ Quốc.

Hiện tượng đầu tiên là nhiều ngàn giáo dân rời bỏ Bắc Kỳ kéo vào Đà Nẵng xin đi lính tập cho Pháp. Đô đốc Rigault de Genouilly tiếp nhận họ tại Sơn Trà và huấn luyện họ tại đây. Sau đó, Genouilly đã tuyển chọn 6000 người trong số họ để nhập vào liên quân Pháp-Tây Ba Nha đánh chiếm Saigon.

Trong công cuộc xâm chiếm và bình định Việt Nam, thực dân Pháp đã được giáo hội Công giáo Việt Nam hỗ trợ tích cực mọi mặt. Trong số các tín đồ Việt gian, có những nhân vật rất nổi tiếng sau đây :

1. Tổng Đốc Phương, tức Đỗ hữu Phương, sinh năm 1844 tại Saigon, nguyên chủng sinh tại Penang, thông thạo tiếng Pháp, được Pháp chọn tham gia phái đoàn của Pháp trong cuộc thương lượng với triều đình Huế năm 1868. Sau đó Phương tham gia các cuộc tảo thanh chống Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá. Năm 1872, Phương được Pháp thăng chức tổng đốc Saigon.

2. Trần Bá Lộc, sinh năm 1834 trong một gia đình Công giáo tại Long Xuyên. Lộc xin vào đoàn quân Công giáo do Charner tổ chức chuyên việc lùng quét các nhóm quân kháng chiến. Sau khi tham gia nhiều trận đánh tái chiếm Rạch Giá, Lộc được Pháp phong chức tổng đốc Rạch Giá. Y là tên đại Việt gian được Pháp tín nhiệm trao nhiệm vụ triệt hạ phong trào kháng chiến từ Quảng Nam đến Phan Thiết. Với nhiệm vụ này, Trần Bá Lộc đã giết hại khoảng 25 ngàn người Việt yêu nước.

3. Trần Tử Ca, nguyên là một người bên lương, sinh trưởng tại Gò Vấp. Lúc đầu y đi theo kháng chiến, nhưng sau đó y theo đạo, rời bỏ hàng ngũ kháng chiến theo giặc chống lại Tổ Quốc. Năm 1862, Ca được Pháp bổ làm tri huyện Hóc Môn. Năm 1865, y đi theo quân đội Pháp càn quét các tỉnh miền Tây. Đêm 9-2-1885, Ca bị nghĩa quân giết chết .

4. Huỳnh Công Tấn là một người Công giáo trong hàng ngũ nghĩa quân của Trương Công Định từ 1861. Ngày 20-8-1864, Tấn phản bội, bất thần phục kích giết chết Trương Định tại Gò Công. Ngày 19-9-1868, Huỳnh Công Tấn cùng với 127 lính tập Công giáo vây bắt Nguyễn Trung Trực tại đảo Phú Quốc. Như vậy, riêng một mình y đã sát hại được hai nhà cách mạng kháng chiến nổi tiếng tại Nam Kỳ. Y được Pháp trao tặng Bắc Đẩu Bội Tinh cho hai chiến công lớn này !

5. Tạ Văn Phụng, tức Phêrô Lê Duy Phụng, nguyên chủng sinh tại Penang, lấy danh nghĩa là con cháu nhà Lê dấy binh khởi nghĩa tại Bắc Kỳ chống triều đình Huế năm 1858. Tạ Văn Phụng nhờ các giáo sĩ liên lạc với chính phủ Pháp để xin giúp đỡ. Napoleon III đồng ý, và cử tên gián điệp Duval sang Việt Nam giúp Phụng với mục đích biến Bắc Kỳ thành một xứ Công giáo với một chính quyền Công giáo. Duval đi Macao mua vũ khí và giúp Phụng thành lập những đoàn quân gồm đa số là giáo dân. Trong các tháng 6 và 7-1863, Phụng khởi quân đánh chiếm một vùng rộng lớn ở đồng bằng Bắc Bộ gồn 3 tỉnh Quảng Yên, Hải Dương và Nam Định.Triều đình Huế cử Nguyễn Tri Phương đem quân ra Bắc dẹp loạn. Tạ Văn Phụng bị bắt đem về Huế xử tử.

Vài điều trình bày trên đây chỉ là bản phác họa một cách trung thực những giai đoạn của Việt Nam vong quốc sử hồi nửa cuối thế kỷ 19. Đây là điều cần thiết để nhắc nhở toàn dân Việt Nam phải luôn luôn đề cao cảnh giác phòng ngừa những thế lực ngoại bang cùng tay sai bản địa lấy danh nghĩa tôn giáo để xâm lăng chủ quyền và phá hoại nền văn hóa cổ truyền của dân tộc.

Riêng đối với Vatican và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, hai tổ chức này không thể phủ nhận trách nhiệm trong việc họ đã cấu kết với thực dân Pháp chống lại nước Việt Nam gần một thế kỷ (từ giữa tk 19 dến gần giữa tk 20). Gần đây, Giáo Hoàng đã thú nhận những tội lỗi của Vatican đối với nhiều quốc gia và dân tộc trên thế giới. Còn bao giờ thì Giáo hội Công giáo Việt Nam mới lên tiếng tạ tội với dân tộc về những lỗi lầm trong quá khứ đối với Tổ Quốc ?

Các bạn Công giáo Việt Nam: để tỏ tình dân tộc, các bạn cần áp lực Giáo Hội Công Giáo Việt Nam tách hẳn khỏi ảnh hưởng của Vatican (như Anh Quốc đã làm trước đây, và Trung Quốc đang làm). Tại sao các bạn không thể “hiệp thông thẳng với Chúa” mà không cần trung gian của Vatican hay cái giáo hội tay sai của Vatican ?

Charlie Nguyễn
18 months ago hiep dam   +1
Xin nói chuyện với LM Andrew Nguyễn Ngốc Lễ và Lm cái loa ViệtCatholic (hiếp dâm Diamond Bích Ngọc) Trầ Công Nghị:Vô tình tôi lục trang Web này thấy cha thương xót cha Lý bị CA bịt miệng mà cha Lễ đem lòng phiền trách nhà nước VN hiện nay,tôi cũng không trách cha viết sai mà sự thật thì sai...Tôi xin tự giới thiệu sơ là tôi người ở Giáo xứ Tây Linh Thành Nội Huế tuần nào cũng thay phiên nhau về Nhà thờ Đốc Sơ làm lễ tăng cường cho dông con chiên kẻo ở ĐS quá ít người...Vì thế trong thời gian cha Lý trông coi nhà thờ này quá nhỏ,nhưng ý của Đúc TGM Nguyễn Kim Điền đưa cha Lý về đây là để nằm chờ cơ hội khác để Cha lý đảm nhận chức vụ cao hơn sau này..Ở đây phong cảnh hữu tình cô đọng,người ngoan đạo hiền lành,số người làm cho Cậu Cẩn ở Phủ cam năm xưa hống hách ngay trong cộng đồng giáo xứ cũng cao chạy xa bay,nên sau ngày giải phóng nơi đây thật yên bình,trong họ đạo chính quyền địa phương cung cho một gia đình giáo dân mở lò dạy võ cổ truyền thì biết là hoàn cảnh đất nước thời bấy rất khó khăn mà một thôn ấp như DS có hay không có yên bình??Cha Nguỹen Văn Lý ở DS đã phạm những lỗi nặng của người trần tục chũa nói đến giáo luật:

-Trong ca đòan GX ĐS,cha LÝ đã phá hoại đời con gái hơn 3 em.Có 7 cô lớn tuổi chuyên nghề chầm nón lá Huế thay phiên nhau gần gủi bên cha Lý,thì 2 cô sinh cho cha Lý 2 thằng mặt mày kháu khỉnh.Chuyện này đỗ bể ra chính do người của giáo xứ tố giác với chinh quyền.Hiện nay 2 cháu vẫn hoc hành tốt,cha Lý lúc chưa ở tù cũng cung cấp cho 2 con minh tiền bạc.Mẹ của 2 đứa con cha Lý có một người ban đêm đi bán thêm trứng vịt lộn sau giờ chầm nón.

Cha Lý ăn chơi quá độ đến nỗi giáo đân sợ cha hư hỏng mang tiếng xấu cho Chúa nên tự tổ chức chia nhau canh gác hể thấy em nào vào nhà cha Lý thì đuổi ra ngay,thế mhưng cũng không tránh đươc,các em dại dột quá cứ tự mình đem dâng hiến.Có một lần vào buổi trưa khoản 3 giờ,có một em đưa thân đến nạp cho cha,đi rất nhanh ngang qua nhà cha Lý ,bất thần quay lui mở cửa thót mau vào trong cài cửa lại.Ngừơi già được giáo dân phân công trực chạy lại gỏ cửa, không mở.Ông này tức quá chạy ra kéo chuông báo động, cha Lý áo quần xốc xếch chạy ra tát mấy bạt tai nganh mặt Ông già đang tuổi cha mình còn nói "ai cho mi rung chuông!!!"Ông già lủi thủi ra về,trong lúc đó bà con xóm đạo cứ tưởng CS đến bắt Cha Lý yêu quý của mình...Sau đó cha Lý biết mình không thóat được lưới trời về hình sự :quan hệ tình dục bừa bãi gay tổn thương tiết hạnh nhiều người, rồi sẵn dịp chống CS cho oai thôi và đi tù..

-Lần thứ hai vao thángng 10 tnăm 2005 cha lý vào SG, về Q.GV P16 dẫ theo mái đến ngủ ỏ KS Quyền P3 GV bi bắt quả tan là ngủ với Bà xơ Nguyễn Thị Xuân Hà có thư đơn thưa sau kèm> Đến tháng 7/2007 thì cha Lý lại làm chính trị nữa và ra Tòa bịt miệng ,,có tội nghiệp cho Cha Lý không Cha Andrew Lễ???

Thôi thì nay đất nước yên bình rồi còn muốn làm gì lợi cho dân cho ước sướng hơn đi!!!Làm giàu thì được chứ Cha Lễ, cha Nghị muốn nhà nước này sụp đỗ để cho bọn chó chết Việt gian CG nắm quyền thì không được đâu???
add your comment in English


Sở Tư pháp Hà Nội, số 6 Dã Tượng Quan Su Pagoda Quan An Ngon Cục đường sông Việt Nam (Tầng 5, nhà D) - VIWA National Cancer Institute 94 Tran Hung Dao Toa nha 90b1 Tran Hung Dao 50 Quan Su HT 124010 Labour day square Elegant 5 Hotel - 21 Nam Ngu, Ha Noi Phố Cửa Nam Ngõ Tức Mạc UNDP Vietnam Da Tuong street, 9B Tòa án Nhân dân Tối cao Viện Kiểm sát Tp Hà Nội Moevenpick Hotel Hà Nội Hoa Lo Prison (aka "the Hanoi Hilton") 17 Salon Relax Bar Pacific Place Tòa án Nhân dân Tp Hà Nội Ha Noi tower National Hospital for Obstetrics and Gynecology Khu Khám chữa bệnh dịch vụ của Bệnh viện C Bộ Giao thông Vận tải. Akido shop bán đồ siêu đắt . 65 Quán Sứ, trụ sở Otofun.Com 102 Tran Hung Dao Vietnam - Germany Hospital Phố Tràng Thi Phố Thợ Nhuộm BaoMinh Law Firm (No. 15 Nam Ngu Str., Hoan Kiem Dist., Hanoi, Vietnam - http://www.baominhlaw.com.vn) Khách sạn EDEN Sao Mai kindergarten Coffee Gia Dinh Cuban Embassy CH banh my sot vang rat ngon.. (chi ban tu 15h00 hang ngay) Kelly grandpa-in-law's house Viện Khoa học Công nghệ tàu thủy. Nhà của Es Trung tâm cấp cứu da^y la nha anh DUC dep zai hoc truong kien truc sdt:0904326846 Thien Phuc pagoda Benh vien dien thoai Hung haircare 24 nam ngu Hanoi-FasTracKids 18 Yet Kieu OceanBank - 94E Tran Hung Dao Trường Tiểu học bán công Tràng An 5 Quang Trung, Hà Nội NHÀ DŨNG THUÝ 20 TRANG THI HÀ NỘI ĐT/0903416352 Điểm ùn tắc Đinh Tiên Hoàng- Hàng Bài Tòa nhà Trung tâm - Central Building Hang Khay Str. Siêu thị điện máy rỏm Bệnh viện Mắt Hà Nội Hai Ba Trung Str. Phố Lý Thường Kiệt Tortoise Tower - Tháp Rùa Melia Hanoi Hotel. Trụ sở Bảo hiểm Xã hội Việt Nam. Công ty CP Chứng khoán Hòa Bình (HBS) Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội NATIONAL LIBRARY OF VIETNAM Bệnh viện Việt Nam - Cuba Trường THCS Trưng Vương 2F Quang Trung building Công an quận Hoàn Kiếm Hang Bai Str. Phố Tràng Thi National Centre of Archives, No.1 XUNHASABA Corp. Bộ Công Thương - Ministry of Industry and Trade Phuong Nam Joint Stock Bank KML
Edited: 18 months ago Languages: en