| |||||||
![]() ![]() ![]() ![]() | |||||||
Nhà Thờ Mỹ LuôngĐây là một nhà thờ lâu năm , nơi họ đạo hiền hòa rất rất dể thương.
Vết Chân Truyền Giáo của các Thừa Sai Paris tại Á châu Thánh Vincent De Paul được coi là Người đánh thức con tim người Pháp đưa mắt tới người nghèo bằng cho họ cả cơm ăn áo mặc và của ăn tinh thần qua loan truyền Tin Mừng. Có rất đông thanh niên tích cực theo chân Thánh Nhân. Đó là lý do thúc đẩy thành lập Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris. Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris ban đầu nhắm đi truyền giáo tại Tonkin, Cochinchine (VN), và Trung Hoa. Trên đường đi, các ngài khám phá ra nhiều miền phì nhiêu hơn và sẵn sàng đón nhận Tin Mừng. Không quản ngại, các Ngài đã dừng chân và mạo hiểm đến nhiều nơi trong vùng Á châu. Ngay vào năm 1886, Hội đã có 29 giám mục, 751 Linh mục Thừa sai, phụ trách 25 địa điểm truyền giáo, tại Á châu và ấn Độ Dương. Năm 1658, Tòa thánh đặt cử ba Giám Mục Tông Tòa người Pháp : ĐC François Pallu (1626-1684) cho Tonkin, ĐC Pierre Lambert de la Motte (1624-1679) cho Cochinchine, ĐC Ignace Cotolendi (1630-1662) cho Trung Hoa. Ba vị như là sáng lập Hội Thừa Sai Paris. Bắt đầu vào thế kỷ XIX, khởi đầu đến Siam (tức Thái Lan ngày nay, từ 1662), Tonkin, Cochinchine (tức Việt Nam.1664), rồi đến vùng Trung Quốc và vùng ấn Độ (từ 1776). Sau mở rộng truyền bá Tin Mừng qua Cam Bốt (1659), Nhật (1831), Mandchourie (1838), Miến Điện (1855), Mã Lai (1841), Tibet và Assam (1846), Lào, Hong Kong. Qua thế kỷ XX, các Thừa Sai vận động để có Giám mục người địa phương, như một giám mục người ấn Độ (1923), 6 giám mục người Trung Hoa (1926), một giám mục người Nhật (1927), và một ở Việt Nam là ĐC GB. Nguyễn Bá Tòng (1933). Cộng sản đã làm cản trở bước đi của các vị thừa sai, ngưng hoạt động ở các nước cộng sản. Hiện nay các Thừa Sai tiếp tục hoạt động tại đảo Maurice, Nam Dương, Nouvelle Calédonie, Đài Loan, Đại Hàn, Nhật, ấn Độ, và Madagascar. Bù lại, thay vì đi xa, Hội nhận nhiều linh mục Á châu qua du học tại Pháp trong đó có hơn 100 cha VN. Vết chân các ngài đã đem lại kết quả rực rỡ, nhiều vị được phúc tử đạo, trong đó có 10 Thừa Sai Hiển Thánh tại Đại Hàn (6.5.1984), 10 Hiển Thánh tại VN (19.6.1988), 3 hiển Thánh tại Trung Quốc (1.10.2000). 1. Siam (từ năm 1662) và đổi tên là Thái Lan (Thailande,1939) Từ 1662, Siam là nơi đầu tiên, ĐC Pierre Lambert de la Motte (1624-1679) dừng chân để tìm đường đến Cochinchine. Ngài đã gặp vua Siam Phra Narai và tiếp súc với các sư sãi, có quyền hành đạo đời, và tôn sùng đạo Phật, đạo gốc của xứ này. Năm 1664, phái đoàn ĐC François Pallu mới đến Siam để đi Tonkin. Hai Đức Cha cùng hợp tác làm việc với 5 thừa sai François Deydier, Louis Laneau, Pierre Brindeau, Louis Chevreuil và Antoine Haincques. Sau này, phân chia mục vụ đi : Louis Chevreuil, Antoine Haincques và François Deydier đi Cochinchine qua ngả Macao đến Hội An, Louis Laneau và François Deydier ở lại Siam, Pierre Brindeau đi Trung Hoa. Ở Siam đã có sẵn các Cha dòng Tên người Bồ Đào Nha, tổ chức thánh lễ và giờ kinh cho nhóm giáo dân Bồ Đào Nha, Nhật, Pháp và Tonkin và Cochinchine (Việt Nam), mở trường học ở vùng ngoại ô Phuket. Thời gian này ĐC de la Motte cùng với các Cha Dòng Tên và làm việc cho hai nơi : Siam và VN. Tại Siam ĐC chú ý tới công tác xã hội nhiều hơn. Giúp đỡ những người nô lệ và thăm bệnh nhân trong thôn làng xa hẻo lánh. Tại Siam, ĐC gửi thư mục vụ đầu tiên, an ủi giáo dân ở VN. Cùng làm việc có Cha Jacques de Bourges, Cha François Deydier. Các ngài mở Công Đồng ở thủ đô Ayuthaya (1664), chủng viện Saint Joseph ở Ayuthaya (1671), Trường St Joseph (1665), và lập dòng Mến Thánh Giá (1672). Siam coi như trung tâm điều hành cho các Cha Thừa Sai Paris, ở Siam, Tonkin và Cochinchine (VN) và Trung Hoa. Năm 1669, người chính thức ở lại Siam và hoạt động là cha Louis Laneau (1637-1669). Ngày 28.1.1685, Cha Louis Laneau trình diện vua Siam. Sau ngài là 6 cha khác. Siam có chủng viện Thánh Giuse ở Penang, đào tạo linh mục cho miền Viễn Đông. Sau này Cha Louis Laneau làm giám mục tông tòa đầu tiên ở Siam, và chết trong tù. Từ 1939, Siam đổi tên là Thailande. Nhà vua Phra Narai có cảm tình với các vị truyền giáo, và cho phép hoạt động ngoại ô và vùng quê, nên hoạt động mục vụ tương đối dễ dàng, tuyển chọn chủng sinh. Cộng tác với ĐC Laneau có 6 thừa sai như cha Pinto (từ Roma), cha Pierre Ferreux (1657-1698), cha Gabriel Braud ( ? - 1722). Cha Jacques Corre (1734-1773), cha Coudé (1782-1785) xây nhà thờ Mân Côi, Cha Maurise Carton (1875-1948), cha Mathurin Guégo (1843-1897), Cha chân phước Nicolas Bunkerd Kimbangrung (5.3. 2000). Năm 1834, nhà thờ đầu tiên các cha Thừa sai xây cất, mang tên tại Santa-Cruz ờ Bangkok. Sau ĐC L. Laneau kế tiếp là các Đức Cha thuộc Hội Thừa Sai Paris : ĐC Louis Champion de Cité (1648-1727) ĐC Jean Jacques Tessier de Queraley (1668-1736), ĐC Olivier Le Bon (1710-1780), ĐC Fernand Dupond (1809-1872), ĐC Louis Vey (1840-1909), ĐC René Perros (1870-1952), ĐC Constant Prodhomme (1849-1920), ĐC Ange Marie Gouin (1877-1945), ĐC Henri Thomine (1886-1945), ĐC Claudius Bayet (1990-1990), ĐC Alain Van Gaver (1921-1993), ĐC Pierre Urkia (1918...) Sau 1975 có ĐC Pierre Bach (1932...) ĐC Germain Berthold (1923-1994) và ĐC Michel Langer (192- -1989). Ngày 24.2.1958, ĐGH Paul VI đã ký sắc lệnh thành lập hai tổng giáo phận cho Thái Lan : Bangkok và Nakhorn Savan với hơn 300.000 giáo dân. Tới 1997, chỉ còn 9 cha, và 8 thầy của Hội Thừa Sai Paris làm việc tại miền thượng du Thái Lan và Cambốt. Mùa Giáng Sinh năm 1940, tại làng Songkhon, giáo phận Thare-Nongsen, đông bắc Thái Lan theo dọc sông Mekong, đã xảy ra vụ thảm sát đẫm máu do cảnh sát, bách hại người công giáo. Họ gán ghép cho công giáo là đạo ngoại quốc. Cảnh sát đã tàn phá dân làng, hàng người chết vì Đạo. Trong đó có bảy vị đươc ĐGH Gioan Phaolo II phong chân phước ngày 22.10.1989 : Thầy giảng Philiphe Shiphong 33 tuổi, Nữ Tu Dòng Mến Thánh Giá Anne Phila 31 tuổi, giáo dân Agathe Phutta 59 tuổi, Em Cecile Butsi 16 tuổi, Em Bibiana Khamphai 15 tuổi, và Em Marie Phorn 14 tuổi. ( ĐMHCG 160, 11. 1999, tr. 9) 2. Cam Bốt (1669) Từ năm 1555, các Cha Dòng Tên Fernando Mendez đặt chân đến Cam Bốt, tiếp theo là các cha Dòng Đa Minh, dòng Đa Minh, Dòng Phanxicô. Tiếp theo là hai Cha Thừa Sai Paris từ Trung Hoa đến đây là Cha Louis Chevrueil (1627-1693) và Cha Jean Genoud (1650-1693) đến lo cho dự tòng cho người dân tại đây. Đây là giai đoạn thăm dò truyền giáo. Phần đông là những người công giáo VN chạy cấm đạo qua đây, hay những thương gia từ Nhật, Bồ Đào Nha đến lập nghiệp. Năm 1669, Cam Bốt là phần đất truyền giáo của Địa phận Đàng Trong gồm Chiêm Thành, Cao Miên và Siam. Mãi đến năm 1844, Cam Bốt cũng còn là phần đất truyền giáo của địa phận Tây Đàng trong, do Đức Dominque Lefevre Ngãi (1810-1865) giám quản. Và năm 1850, thành lập địa phận Cam Bốt và Lào do Đức Cha Jean Claude Miche Mịch (1805-1873) quản nhiệm. Năm 1870, vì quá ít người công giáo, Cam Bốt và Lào đã có thêm ít người công giáo, ngài đã xin thêm tỉnh Châu Đốc, Sóc Trăng của Nam Kỳ cho dễ truyền giáo. Cơ quan truyền giáo đặt ở Cù Lao Giêng và giáo dân phần đông là Việt Nam. Năm 1865, phần đất này luôn bị Việt Nam và Siam xâm lấn, nên vua Cam Bốt xin nước Anh cầu cứu không xong. Họ xin đến Pháp qua trung gian các nhà truyền giáo. Từ năm 1902, Đức Cha Laurent Marie Cordier (1821-1895) xin tách rời địa phận Nam Vang ra khỏi tỉnh Nam Kỳ. Từ đây Cam Bốt hoàn toàn độc lập về Công giáo. Các Cha Thừa Sai Paris có công đáng kể : soạn Tự Điển, Văn Phạm, sách giáo Lý, Kinh Nguyện, Tân Ước (1934), Bộ Phúc Âm (1940), rời chủng viện từ Cù Lao Giêng về Nam Vang và khai giảng năm 1917. Mở trường Lasan (1906), lập dòng Thánh Gia, Hội Thày Giảng, Dòng Mến Thánh Giá, dòng Con Đức Bà, Dòng Biển Đức (1952) Ngày 2.9.1955, Tòa thánh thiết lập giáo phận Cam Bốt, do Đức Cha Chaballier coi sóc. Linh mục đầu tiên người Cam Bốt là cha Simon Chen Yen, du học từ Pháp, chịu chức 1957. Năm 1964, Cam Bốt có Hội Đồng Giám Mục. Năm 1984, ĐC Yves Ramousse nhận lãnh trách nhiệm người Kmer ở Cam Bốt, gồm với ba giáo phận, với gần 20.000 giáo dân, với 15 nhà thờ và 52 nhà nguyện. (DCÂC.số 121,11. 1992. tr.6) 3. Ai Lao (1669) Năm 1641, ông Van Wuyshof, cầm đầu phái đoàn người Hà Lan đầu tiên đi theo song Mekong đã đến Vienntiane yết kiến vua Suriya Vongsa. Năm 1642, vị truyền giáo đầu tiên là cha Giovanni Maria Leria, Dòng Tên người Ý cùng người bạn từ Cao Miên lên Vientiane tìm đường truyền bá đức tin. Mặc dầu bị Phật giáo phản đối kịch liệt, cha ở lại được 5 năm. Năm 1660, hai Giám Mục François Pallu và Pierre Lambert de la Motte có sứ vụ đến VN, nhưng VN đang gặp cơn bách đạo gay gắt, các ngài trú ngụ và làm việc tại Ayuthia (Siam) cho VN. Năm 1669, Tòa Thánh mới chính thức thiết lập giáo phận Tông Tòa đầu tiên tại Siam, và ủy thác việc Phúc Âm hóa vương quốc Siam và lân cận cho Hội Thừa Sai Paris. Đức Cha Louis Laneau (1637-1696) làm đại diện Tông Tòa đầu tiên. Từ đó Siam là trung tâm truyền giáo của Siam và Lào. Từ 1771, tiếp theo ý của ĐC Pallu, các giám mục Đàng Ngoài đã thực hiện nhiều dự án và ươm thử mầm non cho cánh đồng truyền giáo Ai Lao. Đức Cha Bertrand Reydett (Bô) đã cử hai thầy giảng Phêrô Nhường và Giuse Xuyên đi thăm dò tình hình và địa điểm truyền giáo tại chỗ. Tại miền rừng rú Tiểu Lào, hai thầy đã gặp những giáo hữu VN chạy trốn cuộc bách hại của chúa Trịnh, đang sinh sống. Những người Lào địa phương ước ao trở lại, nếu hai thầy ở lại chung sống với họ. Năm 1774, cha Lepavec theo ven sông Hồng lên truyền giáo Vân Nam. Khi trở về ngài ghé Lào gặp người VN, và ngài nhận xét dân Lào rất muốn theo Đạo. Năm 1795, thừa sai Jean Jacques Guérard. Năm 1816, ngài làm Giám mục Tây Bắc lên miền thượng du Lào. Dân Lào rất qúi ngài, và tỏ ý tòng giáo, và xin Ngài ở lại. Năm 1878, Đức Cha Paul François Puginier (Phước) lại quyết định cử người đi truyền giáo ở Lào. Được Cha Fiot tình nguyện lên đường đi truyền giáo. Ngày 3.11.1878, nhóm Cha Fiot và Cha Nghi gồm 12 người rời Thanh Hóa đi Lục Canh, và tới Naham thuộc Hua Phan, lãnh thổ Lào, tỉnh Sầm Nưa. Sau khi dựng nhà thờ và cơ sở, cha Fiot chia những người Lào thành 3 thôn sóm và năm 1880, chương trình xứ đạo bắt đầu đi vào nề nếp. Năm 1881, hai vị có công đầu của hai giáo hội này là cha JB. Prodhomme sau làm giám mục và qua đời 1920, và François Xavier Huégo (+1918) nhận lãnh sứ vụ truyền giáo tại Đông Bắc Siam, có đông người Lào. Hai Cha nói thông thạo tiếng Việt và Lào. Kết quả truyền giáo rất lạc quan, nhiều người trở lại và những nô lệ được cứu thoát. Nhưng quan tổng đốc Phaja Chan tẩy trừ đạo và làm khó dễ, tấn công làng công giáo, và trục xuất các vị truyền giáo. Năm 1888, hai cha tìm cách đưa giáo dân qua đảo Don Dôn, cách Nakhon Phanom chừng 6 cây số. Tại đây năm 1891, một chủng viện được thành lập, nơi thuận lợi cho giáo lý Tin Mừng. Hai cha Antoine Mun Thara và Jean Baptiste Theng, là người Lào đầu tiên thụ phong linh mục. Lần lượt các xứ đạo được thành lập và sinh hoạt sầm uất. Trải qua thử thách và gian lao, kể từ 1952 Giáo Hội Lào đã trưởng thành, với bốn giáo phận, hiện đang hoạt động : Giáo phận Vạn Tuợng (thành lập 1952) và Luang Pralang (1963) do các Cha Đức Mẹ Vô Nhiễm coi sóc. Giáo phận Savannakhet (1963) Giáo phận Paksé (1967) do Hội Thừa Sai Paris coi sóc. Sau 1975, Lào Cam Bốt và VN sống dưới chế độ Công Sản với nhiều khó khăn và thử thách. Nhưng ‘‘Giáo Hội Lào đang sống’’, như lời ĐC Jean Khamsé Vithavong (OMI) đã tuyên bố (1993). Năm 1995, Lào đã có Hội Đồng Giám Mục sau 20 năm gián đoạn. Giáo Hội Lào đã có Bảy Chân Phước tử đạo đầu tiên (năm 1940) được ĐGH Gioan Phaolô II phong ngày 22.10.1989 : - Giáo lý viên Philipphe Siphong Onphithak, 33 tuổi - Hai nữ tu : Agnès Phila 31 tuổI, và Lucie Khambang 23 tuổi - Nữ giáo dân : Agathe Puttha 59 tuổi - Ba bạn trẻ : Cecile Butsi 16 tuổi, Viciane Khamphai 15 tuổi, và Marie Khamphone 14 tuổi. Nhân dịp kỷ niệm 110 năm thành lập Giáo Hội Lào (1886- 1986), ĐGH Gioan Phaolo II đã nói trong buổi triều yết chung ở Roma : ‘‘Tôi muốn bày tỏ với mọi người sự thán phục về lòng trung kiên và can đảm của Giáo Hội Lào trước mọi thử thách’’. (DCÂC, 164, 6.1996, ttr. 22-27) 4. Mông Cổ và Trung Quốc (1691) Ba đạo chính của Trung quốc là Phật, Khổng và Lão giáo. Thời nhà Nguyên, giữa thế kỷ 13, ĐGH Innocent thứ IV và vua Louis IX của Pháp gửi vài phái đoàn Thừa Sai đầu tiên Dòng Phanxicô và Dòng Đa Minh đến Mông Cổ. Thực sự vào 1294, Cha Gioavanni da Mateciorvino dòng Phanxicô đến Kambalik (Bắc Kinh ngày nay). Năm 1307, ĐGH Clement V đặt ngài làm tổng giám mục Bắc Kinh, có 30.000 giáo dân. Một hoàng tử người Mông Cổ trở lại Công giáo đầu tiên. Công giáo bị nhà Minh cấm đoán. Mãi đến năm 1583, nhiều vị Thừa Sai Dòng Phanxicô, Đa Minh, Dòng Tên và Augustin tìm cách vào Trung Quốc. Hai cha đầu tiên ngườI Ý là Cha Matteo Ricci và Cha Michele Ruggiero. Hai cha đã soạn sách Giáo Lý Trung Hoa. Thời nhà Mãn Thanh công giáo vẫn gặp sóng gió. Cha Francisco Fermandez de Capillas bị chặt đầu, được phúc tử đạo (1648) Qua thời Khang Hy (1654-1772) Mãn Triều, Trung Hoa được tự do truyền đạo. Tuy nhiên, giữa Dòng Tên và Dòng Phanxicô lẫn Dòng Đaminh có bất đồng về ‘‘Nghi lễ Trung Hoa’’. Từ 1796 đến 1820, các Thừa Sai bị trục xuất, thánh đường bị triệt hạ, giáo dân bị bách hại. Thánh Linh mục Augustino Tchao được phúc tử đạo. Bước đầu do sự giới thiệu của Louis XVI với vua Trung Hoa, một số thừa sai Paris qua Trung Hoa với tư cách chuyên viên kỹ thuật khoa học. Năm 1691, các linh mục Thừa Sai Paris mới chính thức lập nhiều cơ sở truyền giáo tại Trung Quốc : ở Jiangxi, do cha Jean Marie Pin (1643-1692), phụ trách coi sóc thêm Siam. Năm 1683, ĐC Pallu cùng đi với cha Philinert Le Blanc. ĐC Pallu vào VN, còn cha Philibert Le Blanc (1644-1720) ghé Trung Hoa, lập xứ ở Canton, ở Chaozhou do cha Jean Basset (1662-1707), ở Fulian do cha Artus de Lione (1655-1713). Nhiều cha vừa truyền giáo bên Trung Hoa, lại vừa thêm phần vụ ở Siam. Ngày 26.3.1693, ở Fujian, có giám mục người Pháp đầu tiên là Đức Cha Maigrot. Kế nghiệp là ĐC Artus de Lione (1655-1713), đến Đức Cha de Tournon. Năm 1696, Trung Hoa mở chủng viện với 50 chủng sinh, dịch toàn bộ 6 cuốn sách Thánh Kinh, mở trung học. Lớp Linh mục Trung Hoa đầu tiên có Cha Antoine Tang, André Li, Luc Li, Étienne Siu, chịu chức năm 1718. Các cha này trở thành nhà Thần học nổi tiếng, đào tạo chủng sinh. Trung Hoa cử linh mục Trung Hoa đi Siam, đi Macao, Phi luật Tân, Đại Hàn và Hong Kong. Năm 1756, tính trung bình cứ một linh mục coi sóc 2.000 giáo hữu. Năm 1744, ở Kouy tchéou, Đức Cha De Martiliat mở dòng nữ, có lời khấn. Năm 1803, và 1924, tại Shaghai, Trung Hoa nhóm họp Công Đồng chung, qui định về phụng vụ, Kinh sách và dạy Giáo lý cho toàn quốc. Sang thế kỷ XIX, Trung Hoa là nơi buôn bán của người Âu châu. Vì mục đích kinh tế, có tranh chấp giữa quan quyền Trung Hoa và Mãn Thanh. Công giáo bị bách hại. Từ 1846 đến 1930, các Thừa Sai đi khắp nước truyền giáo. Từ 1898 đến 1900, Phong trào ’’Nghĩa Hòa Đoàn’’ (Boxer Rebellion) nổi lên phục hồi người Trung Hoa, cấm cách Giáo Hội Công Giáo và trục xuất thừa sai. Có khi cả làng, như làng Shujahe bị nã đại bác bắn xả vào giáo dân, làm 3.000 kitô hữu hy sinh vì đức tin, trong đó có 1.700 phụ nữ và 50 tre em bị tảm sát ngay trong nhà thờ. Cha Auguste Chapdelaine (1814- 1956) và 24 vị thuộc Hội Thừa Sai Người Pháp, một trong 120 vị được tử đạo dịp này và được tôn phong hiển thánh ngày 1.10.2000. Trong số này, điển hình nhất là Anna Vương và Bảy Nữ Tu Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ (FMM) : Anna Driek (Hòa Lan), Clelia Nanetti và Maria Assunta Giuliani (Ý) Gionana M. Kerguin, Irma Grivot và Anne Morceau (Pháp) và Paol Jeuris (Bỉ). (ĐMHCG, số 172. 11.200. tr. 6) Năm 1945, đợt cuối cùng công khai Pháp gửi các Thừa Sai đi Trung Hoa. Năm 1980 còn khoảng 50 Linh mục Thừa Sai lén lút ra vào Trung Hoa lục địa. Hiện nay Hội Thừa Sai đang trao đổi văn hóa những người trẻ Pháp và Trung Hoa, theo diện du học, và kỹ thuật... 5. Miến Điện (1838) Người Miến Điện rất sùng Phật và thuần phục nhà vua. Từ 1721 đến 1830 đã có các Thừa Sai người Ý, người Bồ Đào Nha và ít người Âu Châu đến Pégou và Rangoon. Năm 1756, vua Alaungpaya về thủ đô Rangoon mới mời linh mục người Pháp từ Pondichéry là cha Nerini đến Miến Điện. Năm 1852, đến lượt Thừa sai người Anh. Năm 1838, linh mục Paul Ambroise Bigadet (1813-1894) từ Siam đến Rangoon hoạt động, Sau ngài làm giám mục và qua đời tại Rangoon ngày 19.3.1894. Theo sau Ngài là các Thừa sai JB. Lacrampe (1818-1892) phụ trách vùng đồng bằng Irrwayddy. Thừa sai Jean Naude-Theil (1822-1900) phụ trách vùng Thinganaing. Các Cha Thừa Sai Pháp chịu trách nhiệm 5 giáo phận : Thủ đô Rangoon, Bagan, Mandalay, Maymyo, Kalaymyo, và Blamo. Còn phần biên giới Trung Hoa dành cho các Thừa Sai người Ý. Hoạt động cùa các giáo phận đáng kể ở : - Giáo phận Mandlay, ban đầu do cha Charles Arsène Bourdon (1834-1918) coi sóc, chỉ có 1% là công giáo. Sau ngài làm giám mục (1875), có gửi người qua Penang học và làm linh mục. Ngài qua đời tại Singapore, ngày 3.10.1918. - Giáo phận Bhamo, vùng núi, nước độc, nhiều Linh mục Thừa Sai, đến được mấy tháng hay một năm, không chịu nổi khí hậu đã qua đời trong khi thi hành sứ vụ truyền giáo. Người ở lâu và mang lại kết quả nhiều là Cha Charles Boudon (1834-1918) sau làm giám mục Mandalay. Ngài phân chia từng làng, khu cho học giáo lý và học chữ. Kế nghiệp Đức Cha là các Cha Pierre Marie Victorien (1866-1927), Cha Claude Roche (1879-1941), Cha Charles Gihodes (1870-1945), xây cất nhiều nhà thờ, có trường học do các cha dòng Phanxico hoặc các Sơ Dòng Thánh Giuse, đảm nhận giáo dục. - Giáo phận thủ đô Rangoon do Đc Alexandre Cardot (1875-1925) có liên chủng viện đào tạo chủng sinh cho toàn quốc. Từ 1954, Miến Điện đã có giám mục bản quốc là Đức Cha Joseph U Win. Năm 1956, kỷ niệm 100 năm các Linh Mục Thứa Sai hoạt động tại đây. Năm 1966, theo quyết của tướng Ne Win, lấy lý do Miến Điện hoàn toàn độc lập từ 1948, tự lập mọi mặt. Các linh mục Thừa Sai không còn chỗ đứng và hoạt động, đành rời khỏi nước này. 6. Đại Hàn (1828) Trước kia Đại Hàn là phần đất của Trung Hoa. Cha Matteo Ricci dòng Tên nhà truyền giáo ở Trung Hoa đã chú ý tới phần dất phì nhiêu của Tin Mừng này, nhưng thiếu nhân sự. Khởi đầu, tháng Giêng 1784, có nhóm giáo dân do linh mục trẻ người Hoa tên Jacques Chu dẫn đầu đem ít sách khoa học, toán học, thiên văn, và đạo lén lút xuống Séoul thủ đô Đại Hàn. Đây đã có sẵn những người nhiệt thành như Hong Yu-han, Lee Beyeok, Lee Seung-hun... Họ và nhóm đầu tiên được rửa tội. Và Giáo Hội Đại Hàn thành hình từ đây. Mười năm sau, 1794, số rửa tội lên tới 4.000. Theo đề nghị của Giám Mục Bắc Kinh, năm 1828, ĐGH Leon XII mới trao trách nhiệm truyền giáo cho Hội Thừa Sai Paris. Trong nhóm 38 người đi Á châu có Cha Barthélémy Bruguère (1792-1835) tình nguyện đi Đại Hàn, sau làm giám mục Bangkok. Trong 3 năm cực nhọc qua đường biển cha mới tới nơi. Kế tiếp đến sau có cha Pierre Maubant (1803-1839) và cha Jacques Chastan (1803- 1839), cha Laurent Imbert (1796- 1839). Năm 1838, Cha lmbert được cử làm giám mục tông tòa Đại Hàn. ĐC gửi chủng sinh đi Hongkong hoặc Thượng Hải tu học. Hai linh mục đầu tiên người Đại Hàn là cha André Kim (tử đạo năm 70 tuổi) và Thomas Choi. Năm 1866, là năm điêu đứng sóng gió nhất của Đại Hàn. Giáo Hội Công Giáo bị bách hại nặng nề. Khoảng 10.000 người hy sinh tử đạo vì đức tin. Ngày 6.5.1984, trong chuyến viếng thăm Séoul, ĐGH Gioan Phaolo II đã phong thánh cho 103 anh hùng Tử Đạo của Đại Hàn : 55 nam và 48 nữ giáo dân, và Cha André Kim, linh mục đầu tiên Đại Hàn và 10 Thừa sai Paris (3 giám mục và 7 linh mục). Các Giám Mục Thừa Sai Paris đã làm việc tại Đại Hàn có : ĐC Jean Ferréol (1808-1835) ĐC Felix Ridel (1830-1884), ĐC André Larribeau (1883-1974), ĐC Jean Mousset (1876-1957), ĐC Jean Demange (1875-1938)... Năm 1950, Đại Hàn bị phân chia làm hai. Miền Bắc sống trong thầm lặng giữ đức tin trong gia đình. Bắc Hàn có khoảng 3 ngàn người công giáo, một số rửa tội trước 1950, một số thừa hưởng đức tin của cha mẹ. Mãi đến năm 1989, Giáo Hội Bắc Hàn mới được cộng sản nhìn nhận nhưng luôn do sự kiểm soát của công an. Giáo Hội miền Nam phát triển không ngừng, với 18.000 giáo dân trong 50 triệu dân, tức 0,6%. Nam Hàn có 4.000 linh mục, 200 linh mục ngoại quốc, 1.400 chủng sinh, 1.500 nam tu sỹ và 10.000 nữ tu. Đặc biệt có khoảng 400 linh mục thừa sai đi truyền giáo ở Liên Xô cũ, Trung Hoa, Phi châu, Mỹ châu La tinh, cả Pháp nữa. Nam Hàn có 16 giáo phận được do các giám mục Đai Hàn coi sóc. Hiện còn 10 linh mục Thừa Sai Paris đang hoạt động tại đây, kỳ cựu nhất là cha René Dupont (1929) đã 22 năm ở giáo phận Andong. Category: church Not approved
| |||||||