Lưỡng Hỏa thành Viêm (sức nóng) Lưỡng Mộc thành Lâm (rừng) Lưỡng Thổ thành Sơn (núi) Lưỡng Kim thành Khí (món đồ dùng) Lưỡng Thủy thành Giang (sông)
Lưỡng Kim, Kim khuyết (bị sức mẻ) Lưỡng Mộc, Mộc chiết (bị gãy) Lưỡng Hỏa, Hỏa diệt (bị tàn lụi) Lưỡng Thủy, Thủy kiệt (bị hết nước) Lưỡng Thổ, Thổ kiệt (bị cạn khô)
Sa Trung Kim - Vàng trong cát (Giáp Ngọ, Ất Mùi) và Kiếm Phong Kim - Vàng mũi kiếm (Nhâm Thân, Qúi Dậu) gặp nhau thì tốt, gọi là Lưỡng Kim thành Khí.
Bình Địa Mộc - Cây bình địa (Mậu Tuất, Kỷ Hợi) và Đại Lâm Mộc - Cây rừng lớn (Mậu Thìn, Kỷ Tỵ) gặp nhau thì tốt (Lưỡng Mộc thành Lâm).
Thiên Hà Thủy - Nước thiên hà (Bính Ngọ, Đinh Mùi) và Đại Hải Thủy - Nước biển lớn (Nhâm Tuất, Quí Hợi) gặp nhau thì tốt (Lưỡng Thủy thành Giang).
Lư Trung Hỏa - Lửa trong lò (Bính Dần, Đinh Mão) và Phú Đăng Hỏa - Lửa ngọn đèn (Giáp Thìn, Ất Tỵ) gặp nhau thì tốt (Lưỡng Hỏa thành Viêm).
Bích Thượng Thổ - Đất trên tường (Canh Tí, Tân Sửu) và Đại Trạch Thổ - Đất đường lớn (Mậu Thân, Kỷ Dậu) gặp nhau thì tốt (Lưỡng Thổ thành Sơn).
Người ta có câu "vợ chồng bằng tuổi nằm duỗi mà ăn", ý nói nếu vợ chồng bằng tuổi thì mọi sự hòa hợp không phải lo lắng gì. Tuy nhiên, trên thực tế không phải hoàn toàn như vậy. Lấy ví dụ: Hai người sinh năm 1982, tuổi Nhâm Tuất, mệnh Đại Hải Thủy. 1. Cùng tuổi Nhâm Tuất -> không xung khắc. 2. Cùng mệnh Đại Hải Thủy -> không triệt nhau. 3. Cung sinh: tốt A. Theo Tiên Thiên Bát Quái của vua Phục Hy: Nam và nữ cùng là cung Tốn: Duyên phận: Tốn thú Tốn vi Phục Vị -> Tốt B. Theo Hậu Thiên Bát Quái của vua Văn Vương: Nam cung Ly, nữ cung Càn: Duyên phận xem tuổi đàn bà: Càn thú Ly vi Tuyệt Mệnh -> Nửa đường đứt gánh, tử biệt sinh ly. Nửa đường là bao nhiêu năm, không ai biết. Tôi biết! là đến chết (khoảng 70 - 80 năm gì đó). vì khi sống người ta mới đi được nữa đường, khi chết là một nữa còn lại.
|