World / Vietnam / Mien Nui Va Trung Du / Bac Ninh, 8 km from center Coordinates: 21°8'50"N   106°6'22"E

Xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.



Đền, chùa Dạm ở Quế Võ

Đền, chùa Dạm xưa thuộc xã Lãm Sơn Trung, tổng Lãm Sơn Nam, huyện Quế Dương, nay là xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Việc xây dựng và thờ phụng ở cụm di tích này đều liên quan đến trang liệt nữ nổi tiếng thời Lý - Nguyên Phi Ỷ Lan (dân gian gọi là Bà Tấm).

Về bà Ỷ Lan, đến nay chưa rõ tên thật và năm sinh, chỉ biết bà họ Lê, quê ở hương Thổ Lỗi, lộ Bắc Giang (sau là hương Siêu Loại), vợ vua Lý Thánh Tông, bà mất năm 1117. Mối tình giữa bà và Lý Thánh Tông thường được nhắc đến như một cuộc kỳ ngộ. Nhân một chuyến tuần du đến hương Thổ Lỗi, Thánh Tông đã gặp bà đang hái dâu. Trong lúc đám đông đổ xô đi xem xa giá, thì bà vẫn đứng tựa vào cây mà hát. Vua lấy làm lạ đưa vào cung lập làm phu nhân. Cái tên Ỷ Lan là từ câu chuyện này. Đời sau, dân gian còn gắn Ỷ Lan vào nhân vật trong truyện Tấm Cám nữa.

Ỷ Lan có một vị trí quan trọng trong lịch sử nước nhà cuối thế kỷ X sang đầu thế kỷ XI. Khi làm nhiếp chính thay vua, bà đã tỏ rõ tài năng chính trị an dân của mình; điều hành việc nước có phép tắc, bỏ tiền của ra chuộc những người con gái nhà nghèo phải đi ở đợ, rồi tạo điều kiện cho họ có chồng con yên ổn. Khi đã là Hoàng Thái Hậu, bà còn giúp Lý Thánh Tông có chính sách nông nghiệp đúng đắn, cấm giết trâu, bò bừa bãi để dân có đủ trâu cày. Nhân dân rất ca ngợi Ỷ Lan - gọi bà là Đức Quan Âm.
Ỷ Lan cũng rất sùng Phật giáo, bà cho dựng nhiều chùa và thường giao thiệp với các nhà sư uyên bác. Bà đã chất vấn các nhà sư về lịch sử Phật giáo ở nước Nam, đàm đạo với sư Thông Biện, thân thiết với sư ni Lý Ngọc Kiều.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư và Việt Sử lược năm 1085, Nguyên Phi Ỷ Lan khi dạo chơi Đại Lãm Sơn có ý định xây chùa. Năm 1086, triều đình nhà Lý ra lệnh xây dựng chùa. Năm sau, 1087, vua Lý Nhân Tông đến thăm ngôi chùa đang xây, mở tiệc, làm thơ "Lãm Sơn dạ yến". Một chục năm ròng rã, năm 1097 chùa Dạm mới hoàn thành, được vua ban tên chùa là "Cảnh Long Đồng Khánh". Năm 1105 lại xây ba tháp đá ở chùa Lãm Sơn.
Thời gian dài luôn có sự đầu tư của triều đình, chùa Dạm càng được gia công mở mang quy mô. Sau này, vua Trần Nhân Tông đến thăm, từng ca ngợi thành thơ về bức tranh kiến trúc kế tiếp mười hai lớp này. Công trình kiến trúc đồ sộ lộng lẫy xưa không còn nữa song chỉ nhìn phế tích hôm nay cũng đủ xúc động, tự hào.
Chùa Dạm dựa vào núi Dạm, nhìn về phía sông Đuống xa xa. Chùa gọi theo tên núi. Núi Dạm còn có tên là Đại Lãm Sơn, Lãm Sơn hoặc Cảm Lãm Sơn. Theo truyền thuyết đây là vùng đất cổ tứ linh đủ long, ly, quy, phượng. Chùa Dạm tên chữ là Trần Quang Tự. Bốn lớp nền trườn theo sườn núi lên cao dần, dừng ở lưng chừng núi, hòa đồng cùng thiên nhiên cây cỏ. Chùa chiếm diện tích trên 2 mẫu Bắc Bộ, với 4 cấp cao dần kéo một trục dài 120 m, chiều rộng mặt nền 70 m.Mỗi cấp nền chùa đều có xếp đá chống xói lở, chân hơi choãi cao chừng 5,6 m. Đá xếp đều khai thác tại chỗ, đẽo gọt vuông vắn như viên gạch dài rộng chừng trên nử a mét. Lên cấp nền đầu tiên bằng một lối cửa, tầng bậc cao, cả khoang bậc rộng 16m. Lên lớp nền thứ hai có 3 lối hẹp hơn, tầng bậc thấp hơn. Lên lớp nền thứ ba và thứ tư đều chỉ có 2 lối hẹp. Kè đá ở cấp nền thứ hai, đó là nền chùa chính, trên đá xây có chạm hoa văn sóng nước, nét hoa văn to nổi khối, do chạm sâu. Trên nền tầng này, ở khoảng giữa ba lối cửa, bên phải chùa có khu đất vuông, cạnh 7 m, cao 2 m, kè đá chạm văn sóng nước Thời Lý. Trên khu đất này có dựng một tấm bia trên lưng rùa. Thân bia cao 1,5 m, rộng 1 m. Cả mặt bia đều mòn mờ, chỉ còn đọc được hai chữ "tín thi" to, sâu ở mặt hậu. Diềm bia có hoa văn dây leo có lẽ được khắc sau này, quãng thế kỷ XVI. Đối diện với khu đất vuông này qua lối cửa giữa, bên trái cũng có một khu đất nổi, nhưng hình tròn đường kính khoảng 4,5 m, cao 1 m, cũng kè đá chạm hoa văn sóng nước Lý.
Phần trên khu đất tròn này, dựng một cột đá lớn nguyên khối, không kể phần chôn sâu chìm, tất cả cao gần 5 m. Cấu trúc cột làm 2 thớt khối, cũng lấy tượng hình vuông tròn trời đất. Khối gốc như hộp vuông tiết diện, cạnh 1,4 m và 1,6 m. Khối ngọn trụ trì, đường kính khoảng 1,3 m. Đoạn dưới phần trụ tròn này chạm nổi đôi rồng Lý đầu vươn cao chầu vào viên ngọc tỏa sáng, thân quấn quanh cột, đuôi ngoắc vào nhau. Đúng dạng rồng rắn thời Lý với mào bốc lửa, bờm thành búi như cờ đuôi nheo bay lướt, thân tròn lẳn uốn khúc thoăn thoắt, chân chim năm móng. Đôi rồng nổi bật giữa các hoa văn phụ hình hoa dây móc, tinh xảo. Vì thế cột đá chùa Dạm nhiều chất hoành tráng, nhìn xa đã bị thu h út, nhìn gần càng đẹp. Cột đá này phải chăng là trụ biểu Lin ga và Yoni đã được Việt hóa? Cột mang mơ ước mưa thuận gió hòa, đời sống ấm no thịnh trị. Nền này còn có giếng Bống, truyền kể - Bà Tấm trong chuyện cổ dân gian nuôi cá bống ở giếng này.
Nền thứ ba và bốn có dấu tích chùa và đền thờ Bà Tấm - Nguyên Phi Ỷ Lan. ở đây còn tấm bia đá nhỏ, khắc năm Chính Hòa thứ 17 (1696) cao 0,65 m, rộng 1,40 m. Bia "Đại Lãm Thần Quang tự tân tạo Hộ Pháp" cho biết trước đây chùa chưa có Hộ Pháp và hàng ngàn người làm việc phúc, tu bổ chùa, dựng thêm tượng.
Ngoài ra, ở di tích chùa Dạm còn tìm được phần đầu tượng đá Kim Cương. Các chân đế cột bằng đá cỡ lớn chạm khắc hoa văn đẹp của công trình thời Lý còn sót lại và nhiều mảnh đất nung hình con vịt, con rồng, hoa lá...
Với những giá trị lịch sử và nghệ thuật nêu trên, đền, chùa Dạm - thờ bà Tấm - Nguyên Phi Ỷ Lan đã được Bộ VHTT xếp hạng là DTLSVH từ năm 1962.
Hiện nay, đền, chùa Dạm vẫn còn ở trong trạng thái bị xuống cấp trầm trọng, một vài hạng mục công trình do nhân dân địa phương tự vận động, đóng góp xây dựng mới chưa đáp ứng được yêu cầu của việc phục hồi, bảo tồn di tích đối với công trình có giá trị đặc biệt này.
--------Lê Viết Nga--------

Category: region
|


This article is semi-protected.
This place needs an english description, .


add your comment in Vietnamese
Edited: 4 months ago Languages: vi