| |||||||
| This place was deleted, it will be removed from all search engines in few weeks. Công an Huyện Bình ChánhTẠI SAO HUYNH ĐỆ TƯƠNG TÀN ?
Ngô Nhân Dụng Cuối tuần này có nhiều sinh hoạt tưởng niệm ngày 30 Tháng Tư, nhiều hơn hẳn mấy năm gần đây. Tại sao người Việt tị nạn năm nay nhớ đến ngày lịch sử đó hơn trước? Rõ ràng nhất, là vì đồng bào ta ở nước ngoài đang phấn khởi trước các tin tức và hình ảnh những cuộc đấu tranh đòi dân chủ tự do ở trong nước. Hầu như mọi người đều đã được khích động vì những vụ bắt bớ, giam cầm các nhà tranh đấu cho tự do dân chủ, gần đây nhất là các Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, vân vân. Người Việt nào không cảm thấy phẫn nộ trước hình ảnh công an bịt miệng một ông linh mục giữa phiên tòa? Ai không thấy xấu hổ lây trước cảnh công an cấm cản, ngăn đường, lôi kéo các bà Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn, trước ống kính thu hình của báo chí quốc tế? Mọi người đều nghĩ: Chúng ta phải chứng tỏ mình quan tâm, phải tiếp tay những người tranh đấu cho tự do dân chủ ở trong nước. Kỷ niệm ngày 30 Tháng Tư là một cơ hội biểu lộ tấm lòng của đồng bào hải ngoại. Vì thế, những buổi lễ tưởng niệm ngày 30 Tháng Tư năm nay không phải chỉ là những cuộc gặp gỡ để nghĩ về quá khứ. Thực chất, đó là một cách biểu hiện tình đoàn kết và sự ủng hộ của đồng bào hải ngoại đối với cuộc đấu tranh đang diễn ra ở trong nước. Chúng ta đang chứng kiến trong nước Việt Nam một cuộc đấu trí giữa một bên là những người dân khát khao tự do dân chủ, bên kia là một chế độ dối trá, tham nhũng, lạm quyền thủ lợi của đảng Cộng Sản Việt Nam, chỉ muốn kéo dài ách cai trị độc tài hủ lậu của họ. Nhìn vào lịch sinh hoạt cuối tuần này, quý vị cũng thấy nhiều đoàn thể trẻ đứng ra tổ chức những buổi lễ. Họ thuộc một thế hệ mới. Những người lính Việt Nam Cộng Hòa trẻ nhất tham dự những ngày cuối cùng của cuộc chiến quốc cộng năm 1975 thì năm nay cũng trên 50 tuổi cả rồi. Nhưng lớp người trẻ bây giờ trong tuổi 20 cho tới 40 vẫn không quên hướng về đất nước. Họ muốn thắp nến suy ngẫm về ngày miền Nam sụp đổ để xác định phương hướng đấu tranh sắp tới đòi cho đồng bào cả nước sống trong tự do. Ðó là một điều đáng mừng. Ðáng mừng không phải vì có một thế hệ trẻ đang tiếp tục kéo dài cuộc chiến tranh đã chấm dứt 32 năm trước đây. Ðáng mừng vì các bạn trẻ đang dấn thân tham dự một cuộc đấu tranh mới đang diễn ra, để tiếp tay, hỗ trợ những nhà dân chủ trong nước xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho dân tộc. Hơn một tháng trước đây, tôi có dịp gặp gỡ một nhóm bạn trẻ để nói một câu chuyện về Việt Nam, do họ yêu cầu. Ðó là những người ở lớp tuổi mới ngoài 30, tất cả đã tốt nghiệp đại học và đang làm việc, trừ một sinh viên Ph.D. Một điều các bạn trẻ thắc mắc là họ muốn biết những gì đã xảy ra khiến cho nước Việt Nam bị chia đôi năm 1954, rồi vì thế sinh ra cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Nhiều bạn trong lớp tuổi đó đã sinh ra hoặc lớn lên ở Việt Nam sau năm 1975, họ đã được học lịch sử theo lối nhìn và cách xếp đặt của đảng Cộng Sản. Và họ không tin, họ muốn biết rõ hơn. Cuối tuần này là một dịp để chúng ta ôn lại những nguyên nhân gây ra cuộc chiến tranh kết thúc vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Vì thực ra cuộc tranh đấu của các nhà dân chủ trong nước bây giờ cũng chỉ là tiếp tục cuộc vận động đòi “độc lập, tự do, hạnh phúc” của dân Việt từ thế kỷ trước. Từ những năm 1930 cái mầm chia rẽ quốc cộng đã phát sinh rồi. Nếu không có một đảng Cộng Sản ra đời hơn 70 năm trước thì chắc lịch sử Việt Nam đã đi theo một hướng khác, và bây giờ nước ta có thể đã là một quốc gia dân chủ, phú cường không kém gì Nam Hàn, Ðài Loan, những nước cũng sống trong một vùng văn hóa Á Ðông. Tính ra, biến cố 30 Tháng Tư 1975 chấm dứt một cuộc chiến, sau hơn 300 năm kể từ khi một cuộc phân tranh khác chấm dứt, năm 1672. Vào thế kỷ 17, sau khi họ Mạc ở Cao Bằng chịu thần phục, quân Trịnh bắt đầu tấn công vào Nam năm 1627, lấy cớ chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên không đóng thuế. Trong chiến dịch đầu tiên này Trịnh Tráng dùng 5,000 quân. Sau nhiều trận đánh không kết quả trong vòng nửa thế kỷ, đến năm 1672 là trận tấn công chót, vài chục ngàn quân Trịnh không phá được lũy Trấn Ninh, phải rút về. Sau đó dân được yên vì hai bên ngưng chiến, lấy sông Gianh làm biên giới. Một thế kỷ sau, đến năm 1774 quân Trịnh mới vào chiếm Phú Xuân sau khi họ Nguyễn bị quân Tây Sơn lật đổ, nhưng rút cục cơ nghiệp họ Trịnh cũng tàn. Cuộc nội chiến Việt Nam trong thế kỷ 20 ngắn hơn, chỉ có 15 năm kể từ khi đảng Cộng Sản thực hiện chính sách đánh chiếm miền Nam vào năm 1959. Nhưng trong 15 năm đó số quân tham dự và số người chết lớn gấp bội so với thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Lý do cuộc chiến Trịnh Nguyễn khá đơn giản. Hai họ giành nhau quyền hành, cả hai đều muốn lợi dụng danh nghĩa nhà Lê, một triều đại đã được lòng dân từ khi đánh đuổi giặc Minh vào đầu thế kỷ 15. Họ Trịnh được lợi thế có vua nhà Lê bên cạnh, họ có thể dùng vua Lê làm lợi khí tuyên truyền “chính nghĩa.” Cho nên các chúa Trịnh đều nhân danh việc thống nhất quốc gia làm chiêu bài gây chiến, trong khi họ Nguyễn bị tố cáo là chống lại một triều vua chính thống. Nhưng trong thực chất, cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn chỉ là do hai dòng họ tranh giành quyền lực, vua Lê chỉ là một chiêu bài được họ Trịnh sử dụng. Ðó là lịch sử xa xưa. Trong cuộc nội chiến trong thế kỷ 20 thì đảng Cộng Sản Việt Nam cũng sử dụng chiêu bài “Ðộc lập, Thống nhất” để gây ra cuộc chiến tương tàn, không khác gì họ Trịnh dùng chiêu bài nhà Lê ba thế kỷ trước. Nhưng thực chất của cuộc chiến tranh 1959-1975 là một cuộc tranh chấp giữa hai khuynh hướng, cộng sản và không cộng sản, hai loại chủ nghĩa quốc tế và quốc gia ở trên thế giới. Vì thế biến thành một bộ phận trong cuộc đối đầu giữa hai khối tư bản và cộng sản quốc tế kể từ sau Ðại Chiến Thứ Hai. Nếu Việt Nam không có một đảng Cộng Sản, hoặc nếu đảng Cộng Sản đó không đàn áp giết hại các đảng phái quốc gia, thì chắc chắn nước Việt Nam cũng đạt được độc lập, thống nhất mà không đến nỗi gây ra cảnh huynh đệ tương tàn. Tìm về tận gốc thì nguyên nhân sâu xa gây ra cuộc nội chiến lớn thứ nhì trong lịch sử dân tộc Việt là sự phát triển của kinh tế tư bản trên thế giới từ mấy thế kỷ trước. Biến cố hoàn cầu đó đưa tới một phản ứng là các học thuyết xã hội, trong đó có lý thuyết Mác xít, dẫn tới cuộc cách mạng ở Nga năm 1917 thiết lập một chế độ cộng sản. Từ đó, thế giới chia hai, nhiều quốc gia cũng bị chia thành hai phe theo hai ý thức hệ. Nhưng không phải bất cứ quốc gia nào, không phải nước thuộc địa nào trong nửa sau thế kỷ 20 cũng trở thành bãi chiến trường cho hai khối cộng sản và tư bản tranh hùng làm chết hàng triệu người. Ấn Ðộ không, Indonesia không, Thái Lan, Phi Luật Tân cũng không lâm vào cảnh nội chiến bi thảm như thế. Những nước này cũng có các đảng Cộng Sản không khác gì nước ta, nhưng họ không đủ mạnh để giết các người khác ý kiến, chiếm độc quyền đuổi thực dân như Cộng Sản Việt Nam. Tuy các đảng phái quốc gia ở những nước đó không mạnh, nhưng họ vẫn đòi được độc lập, tự do. Một nước rộng lớn và phức tạp như Ấn Ðộ cũng thiết lập được thể chế dân chủ từ năm 1947, đến nay đã kéo dài 60 năm! Ngay trong cuộc bầu cử đầu tiên ở Ấn Ðộ năm 1951, ông Nehru đã đi vận động khắp nước để giành phần thắng cho đảng ông, chứ không dùng các thủ đoạn khủng bố, ám sát những người đối lập theo lối các đảng Cộng Sản. Cho nên một nguyên nhân sâu xa đưa tới cuộc nội chiến ở 59-75, đó là việc ông Hồ Chí Minh, theo đường lối bành trướng của ông Stalin bên Maskva, thành lập đảng Cộng Sản với mục đích đưa dân Việt Nam ta “tiến tới xã hội chủ nghĩa,” muốn đảng Cộng Sản của ông được đứng hàng tiên phong trong phong trào Ðệ Tam Quốc Tế. Nhưng các nước bị chia đôi hai phe quốc cộng như Ðức, Trung Quốc, và Hàn quốc sau năm 1954, họ cũng không dại dột gây đổ máu vì nội chiến. Có phải các quốc gia này tình cờ, gặp may mắn hay chăng? Hay là giới trí thức, lãnh đạo ở các nước đó khôn khéo hơn người Việt Nam? Việt Nam là một trường hợp đặc biệt, và rất đáng thương. Ông Hồ Chí Minh tin rằng hành động xâm chiếm miền Nam là để giúp cho cả dân tộc Việt được giải phóng, để cộng sản hóa cả hai miền, như ở Liên Xô đã được ông Stalin xây dựng. Xã hội Liên Xô là một mô hình vẫn được đám văn công mô tả như cõi thiên đường, “Dân Liên Xô vui hát trong đồng hoa!” Ông Hồ từng ca ngợi “Ðồng chí Stalin đã nói đúng ngàn lần...” Nhưng cũng không thể phủ nhận rằng chỉ vì tin tưởng ở Stalin nên ông Hồ đã phạm một lầm lẫn rất lớn, đã làm hại cả dân tộc Việt, cho tới sau năm 1975 vẫn chưa hết tai hại. Cũng giống như ông Stalin đã làm hại dân Nga từ 1925, cho đến năm 1991 mới ngưng, hay ông Kim Nhật Thành đã làm hại dân Bắc Hàn, đến đầu thế kỷ 21 vẫn chưa hết. Cuộc chiến tranh gọi là “Chống Mỹ cứu nước” của đảng Cộng Sản khi kết thúc đã mang cảnh đói kém từ miền Bắc vào miền Nam, hàng triệu người đã phải vượt biển tìm tự do, mấy trăm ngàn người đã chết oan. Nếu chủ nghĩa Cộng Sản không suy sụp ở chính “thiên đường Liên Xô” thì chắc bây giờ dân Việt Nam cũng phải sống như dân Bắc Hàn. Và chỉ 20 năm sau khi chiến tranh chấm dứt, đảng Cộng Sản đã phải quay ngược chiều, làm kinh tế theo lối tư bản, kết thân với Mỹ, và một giấc mộng của thanh niên Việt Nam bây giờ là được du học ở những nước tư bản như nước Mỹ. Nhiều người vẫn biện hộ cho Hồ Chí Minh rằng chính ông Hồ, vào năm 1945. Do đó, người ta đổ tội cho chính phủ Mỹ đã gạt bỏ thiện chí của ông Hồ. Quả thật, ông Hồ đã từng làm gián điệp cho Ðệ Tam Quốc Tế của Stalin, vào đầu thập niên 1940 đã được dùng như gián điệp cho OSS, tổ chức tình báo của quân đội Mỹ. Nhưng chắc chắn không một tổ chức tình báo nào trên thế giới lúc đó không có đủ hồ sơ về vai trò cán bộ cộng sản Ðệ Tam của ông Hồ. Liệu có chính phủ Mỹ nào lúc đó dại dột chấp nhận một cán bộ của Stalin làm đồng minh hay không? Ai tin được một gián điệp hai mang, ba bốn mang như ông Hồ? Ngay một lãnh tụ cộng sản chống Stalin ra mặt là Thống Chế Tito ở Nam Tư, cũng không bao giờ trở thành đồng minh của Mỹ. Khi chọn con đường cộng sản, ông Hồ đã đưa cả dân tộc vào một cuộc tranh hùng quốc tế, không cách nào thoát được. Ðó là nguyên nhân chính đã gây ra cuộc nội chiến chấm dứt ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Ðảng Cộng Sản Việt Nam cho tới bây giờ vẫn che giấu không cho dân biết những hoạt động cứu nước của các đảng phái quốc gia không cộng sản trước ngày đất nước bị phân chia. Họ thường nói như thể là nếu không có đảng Cộng Sản thì người Việt Nam không giành được độc lập. Nhưng chúng ta biết tất cả các nước thuộc địa đều đã vùng lên đòi độc lập sau Ðại Chiến Thứ Hai. Và họ đều đã độc lập, mà không hao tổn xương máu như dân Việt. Ngay từ trước thập niên 1930, Việt Nam Quốc Dân Ðảng do Phan Bội Châu thành lập đã ra đời. Quốc Dân Ðảng đã đổ máu để đòi độc lập. Năm 1938, chính Phan Bội Châu đã kịch liệt chống lại chủ trương đấu tranh giai cấp của đảng Cộng Sản. Cụ Phan mất sớm, nếu không năm 1945 tình trạng Việt Nam đã khác. Nước Việt Nam sẽ độc lập, tự do, và xây dựng một chế độ dân chủ tự do từ nửa thế kỷ trước, chứ không đến nỗi đến bây giờ những người đòi dân chủ tự do còn bị bắt bớ, tù đầy. Ðó là điều mà các bạn thanh niên có thể suy ngẫm trong những ngày kỷ niệm 30 Tháng Tư này. ***************** VÌ SAO CÓ QUỐC HẬN ? Thế hệ trẻ người Việt, dù bây giờ dưới tuổi 40 cũng biết chắc chắn một điều là sau ngày ngày 30 Tháng Tư năm 1975, đời sống của người dân miền Nam đã suy sụp về mọi mặt. Người dân miền Nam được nếm mùi ăn bo bo, sống trong chế độ công an, hộ khẩu, họp hành triền miên, nghe radio ra rả đêm ngày, không khác gì cảnh đồng bào miền Bắc đã chịu đựng từ năm 1954. Sau ngày đó, con cái nhiều gia đình thất học, nhà cửa bị chiếm đoạt, người bị đẩy lên rừng làm “kinh tế mới,” vân vân. Mất tự do, bị chèn ép, nhiều người đã vượt biển và đã chết. Vì thế người dân miền Nam gọi 30 Tháng Tư là “Ngày quốc hận,” ngày cả nước cùng đau đớn. Tên gọi đó đã thành quen và đi vào lịch sử. Còn một ngày quốc hận đáng nhớ khác là ngày 20 Tháng Bảy năm 1954, ký hiệp định Genève chia đôi đất nước. Ðó là một ngày quốc hận đau thương hơn nữa. Chính việc phân chia đất nước là nguyên nhân gây cảnh người Việt Nam giết nhau suốt 15 năm trời, cho đến năm 1975. Cuộc chiến tranh chấm dứt ngày 30 Tháng Tư có thể mở một cơ hội mới cho dân tộc, vì cảnh máu đổ đã chấm dứt. Nhưng đã biến thành một ngày tang thương; vì phe thua trận là những người vẫn tin tưởng ở tự do, dân chủ, và lựa chọn kinh tế thị trường. Những người phía bên kia, đảng Cộng Sản chọn chế độ chuyên chính độc tài và kinh tế tập trung chỉ huy, họ đã thắng trận. Nguồn gốc việc phân chia “quốc, cộng” đã được gieo từ thập niên 1920-1930. Lúc đó nhiều thanh niên yêu nước đi tìm đường giải phóng dân tộc, trong số đó có một số người tin theo chủ nghĩa Cộng Sản, nhiều người khác thì không. Chúng ta cần nhìn lại lịch sử thời gian trước đó để nhìn rõ toàn cảnh. Lúc Hồ Chí Minh thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam (sau bị ông Stalin bắt đổi tên là đảng Cộng Sản Ðông Dương, và buộc phải trao quyền lãnh đạo cho Trần Phú), các nhà cách mạng Việt Nam ngoài đảng Cộng Sản đều muốn nước nhà sau khi độc lập sẽ theo một chế độ dân chủ, tự do giống như ở Trung Hoa đang xây dựng. Nhưng ông Hồ Chí Minh và các cán bộ cộng sản có sẵn một chủ trương khác, đã hấp thụ từ các trường của Stalin. Họ muốn là sau khi đuổi người Pháp đi thì sẽ thiết lập ở nước ta một chế độ chuyên chính theo phong trào Ðệ Tam Quốc Tế. Và nước Việt Nam sẽ là một phần của mặt trận vô sản toàn thế giới chống lại chủ nghĩa tư bản trên thế giới. Khái niệm về quốc gia, về tổ quốc đối với họ là các tư tưởng lạc hậu. Chúng ta có thể thấy rõ ý định của ông Hồ Chí Minh, như ông viết rất rõ rệt trong báo Thanh Niên mà ông xuất bản ở Quảng Châu năm 1925. Ngày 18 Tháng Mười năm 1925 báo này in trên tiêu đề khẩu hiệu: “Vô sản toàn thế giới, hãy đoàn kết lại!” Câu này trích từ Tuyên Ngôn Cộng Sản. Tham vọng của Hồ Chí Minh và các đảng viên cộng sản là vượt lên trên chủ nghĩa quốc gia, dân tộc hẹp hòi. Ngày 20 Tháng Mười Hai năm 1926 ông Hồ viết: “Cái danh từ tổ quốc là do các chính trị gia đặt ra để đè đầu nhân dân... để buộc những người vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và quyền lợi của giai cấp tư sản. Thực ra, chẳng có tổ quốc, cũng chẳng có biên giới.” Không ai có thể phủ nhận ý định rõ rệt của ông Hồ Chí Minh: Lồng vào cuộc vận động giành độc lập của dân tộc Việt Nam một mục tiêu khác: Ðấu tranh giai cấp. Ðó là một khẩu hiệu hoàn toàn xa lạ đối với đa số người Việt Nam yêu nước thời đó. Nhưng ông Hồ đã được huấn luyện ở Mát Cơ Va, ông lãnh lương của guồng máy Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế và được họ hỗ trợ để thi hành chính sách bành trướng của Ðệ Tam Quốc Tế. Ðảng Cộng Sản Việt Nam bây giờ thường cố mô tả Hồ Chí Minh như một người yêu nước nhiều hơn là người cộng sản thật. Có thể điều đó đúng, nhưng không ai biết sự thật ra sao. Nhưng biện hộ cho ông Hồ như vậy không khác gì tố cáo những bài báo ông viết trên tờ Thanh Niên kể trên là những lời lường gạt! Và chúng ta sẽ thấy, cho đến trước khi chết, ông Hồ vẫn hãnh diện làm một người cộng sản. Năm 1960 Hồ Chí Minh viết, “Ðảng ta luôn luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và của nhân dân... đập tan được mọi âm mưu của giai cấp tư sản hòng tranh quyền lãnh đạo cách mạng với đảng ta...” (cuốn Vì Ðộc Lập Tự Do, Vì Chủ Nghĩa Xã Hội, in năm 1970, trang 219). Trong một bài phỏng vấn nhân 100 năm sinh nhật Lenin, (nói chuyện vào Tháng Bảy năm 1969, đăng trên báo Nhân Dân ngày 5 Tháng Ba năm 1970) Hồ Chí Minh nói rằng chủ nghĩa Lê Nin là một “cẩm nang thần kỳ” khi gặp khó khăn cứ mở ra rồi theo đó mà giải quyết. Ông nói “...giai cấp công nhân và Ðảng của nó (sic) phải lãnh đạo cuộc cách mạng.” Ðảng Cộng Sản cũng hay nhắc đến chủ trương “đoàn kết” và “dân chủ” của ông Hồ khi viết chương trình vắn tắt đầu tiên của đảng Cộng Sản. Nhưng đó chỉ là một trong nhiều lần ông Hồ Chí Minh đã thay đổi phương pháp tranh đấu. Có lúc ông nêu ra chủ trương đoàn kết các giai cấp, các thành phần dân tộc để chống các đế quốc. Những thay đổi đó đều theo đúng chỉ thị của Stalin xuyên qua văn phòng Quốc Tế Thứ Ba. Ông Hồ luôn luôn chấp hành các chỉ thị như vậy. Lý do không những vì ông là một cán bộ cộng sản gương mẫu luôn luôn theo lệnh cấp trên, mà còn vì các hoạt động và đời sống của ông hoàn toàn tùy thuộc tiền trợ cấp của Ðệ Tam Quốc Tế. Trước khi đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, Hồ Chí Minh sống ở Thái Lan có lúc mất liên lạc với Ðệ Tam Quốc Tế, nên ông không nhận được các chỉ thị mới. Thời gian năm 1929 chính sách của Stalin là đấu tranh giai cấp một cách cực đoan mà Hồ Chí Minh không hay. Cho nên lúc đó ông còn giữ chủ trương đi qua thể chế dân chủ kiểu tư sản trước khi làm cách mạng cộng sản. Nhưng các cán bộ cộng sản khác ở Việt Nam thì họ biết. Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh nêu khẩu hiệu “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” chính là thi hành chỉ thị đấu tranh giai cấp cực đoan của Stalin, mặc dù sau đó phong trào này bị chỉ trích vì hành động nông nổi. Khi ông Hồ trở lại Mát Cơ Va đầu thập niên 1930 ông đã bị đưa ra xét xử, có thể bị tử hình vì đã làm sai chính sách của Stalin, nhưng ông được người đỡ đầu cứu thoát chết. Bài học này, và thời gian sống ở Nga trong lúc Stalin thủ tiêu các lãnh tụ khác trong trung ương đảng Cộng Sản Liên Xô, khiến Hồ Chí Minh vừa tập được tính trung thành tuyệt đối với Stalin, lại học được kinh nghiệm phải giết những “đồng chí” có khả năng đối lập với mình trước khi đánh nhau với bên địch. Năm 1935, Ðệ Tam Quốc Tế lại đưa ra chính sách mới, chủ trương lập những mặt trận đoàn kết với các đảng chính trị và các giai cấp khác để chống các đảng phát xít. Lý do vì Stalin đang lo nước Nga có thể bị phe phát xít tấn công. Hồ Chí Minh cũng tuân theo chủ trương đó và bớt hô hào đấu tranh giai cấp. Trong thời gian trước Ðại Chiến Thứ Hai, Stalin đã báo động các đế quốc đang chuẩn bị tấn công Liên Xô. Ông ra lệnh tất cả các đảng cộng sản trên thế giới có nhiệm vụ phải bảo vệ Liên Xô. Sau đó là thời gian Hồ Chí Minh tìm cách cộng tác với quân Mỹ ở Trung Quốc. Sự ra đời của một đảng Cộng Sản đã đặt cho phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam một vấn đề mới: Lựa chọn giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa quốc tế. Và ông Hồ Chí Minh đã chọn đường lối quốc tế. Và đó là lúc mầm mống chia rẽ dân tộc, đưa tới những “ngày quốc hận” đã bắt đầu được gieo hạt. Nhưng lý thuyết đấu tranh giai cấp, cách mạng vô sản toàn thế giới, xóa bỏ tổ quốc, vượt trên dân tộc, có thích hợp với người Việt Nam vào thời gian đó hay không? Cho tới bây giờ đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục tuyên truyền rằng việc ra đời của đảng Cộng Sản năm 1930 là do nhu cầu đấu tranh của giai cấp lao động Việt Nam, và Hồ Chí Minh đã khôn ngoan ghép cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc với cuộc cách mạng quốc tế vô sản. Nhưng sự thật thì ý tưởng cách mạng vô sản hoàn toàn xa lạ đối với người Việt lúc đó; sự thành công của đảng Cộng Sản ở nước ta hoàn toàn là do họ có thủ đoạn cướp lấy việc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp. Họ lợi dụng lòng yêu nước của người Việt Nam để củng cố quyền hành của đảng. Tiêu biểu cho những người yêu nước trong những thập niên 1920-1930 là Phan Bội Châu. Cụ Phan nghĩ gì về chủ trương giai cấp đấu tranh của đảng Cộng Sản? Nhiều người viết lịch sử theo Cộng Sản thường nói Phan Bội Châu cũng có khuynh hướng cộng sản. Sự thực là cụ Phan đã tỏ lòng kính trọng Lê nin vì coi ông là một người cách mạng, nhưng cụ không hề tin vào chủ nghĩa Mác Lê nin. Kinh nghiệm của cụ khi tiếp xúc với đại diện của chính phủ Liên Xô ở Trung Quốc khiến cụ chống lại họ. Khi Phan Bội Châu ngỏ ý muốn gửi các thanh niên Việt Nam sang học ở Nga như cụ đã từng làm với Nhật Bản gần 20 năm trước, đại diện của Nga đã nói họ sẵn sàng giúp. Các du học sinh sẽ được trợ cấp để sống và được học miễn phí. Nhưng họ đặt ra những điều kiện là người đi học phải tuyên thệ trung thành với chủ nghĩa Cộng Sản, khi về nước phải truyền bá chủ nghĩa này, phải báo cáo các tin tức về cho Ðệ Tam Quốc Tế, và phải lập ra đảng Cộng Sản để thi hành đường lối Ðệ Tam Quốc Tế. Thực chất, Stalin chỉ muốn có những đạo quân gián điệp và khuynh đảo theo lệnh của ông ta. Vì thế Phan Bội Châu đã chấm dứt không liên lạc với đại diện của chính phủ Nga nữa. Cụ thấy chủ nghĩa Cộng Sản hoàn toàn trái ngược với chủ trương dân tộc của Việt Nam Quốc Dân Ðảng mà cụ đã thành lập. Năm 1938, phóng viên Maurice Detour báo L\' Effort phỏng vấn Phan Bội Châu ở Huế, bài này được dịch đăng trên báo Tràng An, ngày 7 Tháng Mười, 1938. Detour tỏ ý phê bình ý kiến của cụ Phan là trái với phong trào Giai Cấp Ðấu Tranh trên thế giới. Theo báo Tràng An, cụ Phan tỏ vẻ giận lắm, cụ nói: “Hô hào giai cấp tranh đấu ở xứ này là một việc cực ngu! Những người thức thời không bao giờ làm như thế.” Những ý kiến của cụ Phan đã được suy nghĩ kỹ từ trước. Cụ hỏi: “Thế nào là tư bản? Một người có 5, 10 mẫu ruộng, một anh chủ tiệm may mà gọi là tư bản ư?... Ðã có người An Nam nào đáng gọi là một nhà tư bản hay chưa? Tôi đã nói ở nước này chưa có sự phân biệt rõ ràng hai giai cấp tư bản và lao động...” Vào năm 1938, cụ Phan Bội Châu đã nhìn trước thấy một cuộc chiến tranh thế giới sẽ bùng nổ. Cụ biết đó là một cơ hội để dân tộc Việt Nam giành độc lập, với điều kiện người Việt Nam phải đoàn kết với nhau. Ðó là một lý do khiến Phan Bội Châu nổi giận khi người ta nói đến Giai Cấp Ðấu Tranh. Cụ nói trong cuộc phỏng vấn trên: “Ðã không chung sức... lần hồi thu phục lại những quyền đã mất, để gầy dựng lại nền tảng quốc gia mà còn đi kiếm cách tương tàn tương phấn, làm giảm mất lực lượng tranh đấu, thật là một điều thất sách!” Không những coi đó là điều thất sách, Phan Bội Châu còn thấy đó là một chính sách phá hoại: “Tóm lại, người ta lợi dụng phong trào xã hội để chia rẽ lực lượng trong nước, để phá hủy sự đoàn kết, và để làm tiêu diệt tinh thần quốc gia của dân ta.” Ngô Nhân Dụng *********************** Từ Hà Nội, Nghĩ Về 30-4: Xấu Hổ Vì Đánh Anh Em Miền Nam... Việt Báo Thứ Hai, 4/30/2007, 9:53:00 PM Ngày 30 tháng 4, nghĩ gì? Đặc biệt là suy nghĩ gì về cuộc chiến Nam Bắc vừa qua? Cựu chiến binh Vũ Cao Quận, người đã nhiều thập niên trong hàng ngũ quân đội Miền Bắc, nói chuyện với Đài RFA trong bản tin hôm 28-4-2007, tâm sự rằng “...Nay tôi thấy xấu hổ vì phải đánh nhau với người anh em ở miền nam.” Bài phỏng vấn viết như sau. Dịp 30 tháng 4 là lúc các cơ quan truyền thông trong nuớc nhắc nhiều đến cuộc kháng chiến chống Mỹ thống nhất đất nước. Vậy chính những người tham gia chiến đấu nói gì về quá trình tham chiến của họ và nhận định về cuộc sống hiện nay? Gia Minh hỏi chuyện ông Vũ Cao Quận, một cựu chiến binh đã trải qua hai cuộc chiến tại Việt Nam. - Gia Minh: Thưa ông, ông từng tham gia chiến đấu và đuợc khen ngợi là anh hùng, dũng cảm, xin ông chia xẻ là ông đã đấu tranh tại những đâu? - Ông Vũ Cao Quận: Nói lại chuyện cũ lại thấy xấu hổ chứ không có chiến tích gì. Ở chiến trường Điện Biên Phủ thì tôi là chiến sĩ, và khi đánh ở chiến trường miền nam tôi là chỉ huy. Nay tôi thấy xấu hổ vì phải đánh nhau với người anh em ở miền nam. Họ gọi chúng tôi là Việt cọng, còn chúng tôi gọi họ là ngụy. Tôi chỉ làm tròn danh dự của người lính thôi, còn về mục tiêu thì tôi không thể nói. - Gia Minh: Nay về thì ông đã hoàn thành những nhiệm vụ gì của người công dân? - Ông Vũ Cao Quận: Thông cảm cho, tôi lắm bệnh tật lắm. Hôm nay có thể nói chuyện nhưng biết đâu mấy hôm nữa đã xanh cỏ; nên mọi cái thanh niên phải làm. Tôi thì luôn tin vào quy luật mà lịch sử thì công minh. Anh đang nói chuyện với một công dân, mà tôi nói vui tôi là một người già ngối xệp bên vỉa hè lịch sử nhìn dòng đời trôi qua truớc mặt mình mà không làm đuợc gì; nghĩ gì thì viết dăm, câu vu vơ vậy thôi. - Gia Minh: Hẳn nhiên có những người trẻ thắc mắc về quá khứ và đến hỏi ông thì ông nói gì? - Ông Vũ Cao Quận: Quả thật tôi đang xấu hổ về quá khứ dù truớc hết tôi phải làm người luơng thiện. Tôi xấu hổ vì tôi làm những việc mà giá tôi đuợc làm lại thì tôi không nên làm thế. Nói lại những cái đó không phải là chiến tích; tự tôi thấy vậy có thể nhiều người sẽ chửi bới và phê phán tôi. - Gia Minh: Nhưng ông phải nói gì với người trẻ để khi họ đến tuổi ông họ không phải nuối tiếc về quá khứ? - Ông Vũ Cao Quận: Tôi trả lời là bạn có thể vào mạng thông tin toàn cầu để tìm thông tin, kiến thức của bạn sẽ là bậc thầy của tôi. Sau khi tìm ra thông tin về mọi vấn đề, và bạn sẽ tự quyết định đuợc. Cái đó người già không dạy cho người trẻ đuợc. Chính họ giảng giải cho tôi phải làm gì. - Gia Minh: Đối với con cháu trong gia đình thì ông phải có những chia xẻ chứ? - Ông Vũ Cao Quận: Có chứ, tôi tâm đắc nhất câu khi người thủ truởng cũ của tôi là tuớng Trần Độ mất; đến dự đám tang thì đại tá Trần Thắng con ông Trần Độ nói là truớc khi chết ông có trăn trối là các con phải làm người tử tế. Tôi cũng sẽ nói với con cháu thế thôi. - Gia Minh: Có những đánh giá là Việt Nam đang thay đổi và thậm chí là cất cánh nữa, ông thấy những đánh giá đó chính xác đến đâu? - Ông Vũ Cao Quận: Tôi suy nghĩ, ở bất cứ nuớc nào mà nghèo cả như những nuớc ở Châu Phi; nếu đuợc quay cảnh ở thủ đô thì không ai nghĩ là dân khổ đến thế. Ở đây cũng thế thôi; những người khách đi du lịch đến những nơi cao sang, có tiền thì họ phát biểu hay; nếu cho họ về vùng quê vùng xa thì họ sẽ phát biểu khác thôi. - Gia Minh: Nay thì du khách đuợc đi đến mọi nơi đó chứ? - Ông Vũ Cao Quận: Họ đi đến tham quan những nơi văn hóa dân tộc: cồng chiêng, bản làng xa xôi đón họ với cặp mắt tốt đẹp; nhưng có bao giờ đến những cảnh khác không. Việt Nam thì rộng rừng rậm nhiều ao truông sông ngòi mênh mông, cái nghèo đói còn rộng lắm thì họ đã đến chưa? - Gia Minh: Cám ơn ông đã dành cho chúng tôi cuộc nói chuyện vừa rồi.
| |||||||