| ||||||||||||||||||||||
Phố Trúc KhêNhà báo Trúc Khê và các danh nhân cùng thời
Nhà văn, nhà báo Trúc Khê là một danh nhân văn hóa của Hà Nội và là một danh sĩ có nhiều công lao đóng góp cho nền văn hoá dân tộc. Chính vì vậy tên tuổi của ông đã được lưu danh trong Từ điển Bách khoa Việt Nam và đang được xét đặt tên phố ở Hà Nội. Sinh thời, Trúc Khê từng có thời gian làm Tổng Biên tập, chủ bút báo Thương mại, báo Bắc Hà và tham gia viết cho các báo Khuyến học, Văn học tạp chí, Phổ thông bán nguyệt san, Thực nghiệp dân báo, Tiểu thuyết thứ bảy, Nước Nam, ích Hữu, Tao Đàn, Tri Tân, Đông Tây... Trăm năm còn lại Trúc Khê tên thật là Ngô Văn Triện, sinh ngày 22.05.1901, quê tại Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội. ông là người nhiệt thành yêu nước, năm 26 tuổi đã chủ trương đánh thực dân Pháp để giành độc lập cho nước nhà. ông đã tham gia Việt Nam Quốc dân đảng do Nguyễn Thái Học lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, ông bị bắt giam ở Hoả Lò (Hà Nội). Ra tù, ông chuyên sáng tác văn học, mở nhà xuất bản "Trúc khê thư cục" và cộng tác với nhiều nhà xuất bản, báo chí... Năm 1946, ông cùng với gia đình về ở Trại Ro (Hà Tây) chờ giao liên đưa lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp. Chưa kịp đi thì nhà văn qua đời trong tháng ngâu sụt sùi của 1947. Năm ấy, ông Doãn Kế Thiện ở mặt trận Liên Việt thay mặt Trung ương về vùng tản cư đón Trúc Khê lên Việt Bắc nhưng không ngờ lại chứng kiến sự qua đời của Trúc Khê. Bên cạnh việc làm báo, sách do ông sáng tác và dịch thuật cũng có rất nhiều tác phẩm có giá trị lớn như: Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Trần Thủ Độ, Bùi Huy Bích, Ba Lan phục hưng sử, Truyền kỳ mạn lục, Tang thương ngẫu lục, Lĩnh Nam chích quái, Tôn Ngô binh pháp, Bao Công kỳ án, ẩm băng văn tập, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lịch sử Nam tiến và nhiều cuốn tiểu thuyết như Đò chiều, Nát ngọc, Hồn về... Trên bìa tuyển tập Trúc Khê do Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành đã viết: "Trúc Khê là một nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo, nhà nghiên cứu dịch thuật, nhà lịch sử... ở thể loại nào ông cũng có những đóng góp lớn lao. 60 năm qua, những gì ông để lại cho đời đều vô cùng quý giá và rất bổ ích. Với ông, viết là nâng cao dân trí, là tôn vinh lòng tự hào dân tộc, là tìm tới cái đẹp, cái tinh khiết của nhân dân hôm qua và hôm nay. Một tuyển tập đầy đủ và công phu về Trúc Khê ra đời vào lúc này quả là quá muộn đối với bạn đọc đã từng yêu mến ông. Với "Tuyển tập Trúc Khê Ngô Văn Triện" cho phép chúng ta khẳng định rằng ông là một nhà văn hóa lớn, một học giả đáng kính, là một niềm tự hào của mỗi người Việt Nam. Nhiều nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu có tên tuổi và uy tín đã viết về ông với một thái độ trân trọng và quý nể. Đó là giáo sư Vũ Khiêu, nhà văn Hoa Bằng, nhà văn Tô Hoài, nhà văn Lữ Huy Nguyên, nhà phê bình Đặng Bẩy, nhà thơ Vũ Quần Phương… Sức làm việc khủng khiếp Xem lại kho tàng văn học đồ sộ mà nhà văn Trúc Khê để lại cho dân tộc, cho nền văn hóa Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã không khỏi ngỡ ngàng về sức làm việc khủng khiếp của ông. Theo phó giáo sư, nhà giáo ưu tú, nhạc sĩ Hoàng Dương, con trai thứ của nhà văn Trúc Khê cho biết cụ để lại cho các con cả một gia tài về tâm hồn và sự ham học. Kể về những kỷ niệm sâu sắc với người cha của mình, nhạc sĩ Hoàng Dương vẫn không thể nào quên được hình ảnh một người cha có sức làm việc ghê gớm, và sức tự học, ham hiểu biết rất cao. Sinh thời, nhà văn Trúc Khê dịch rất nhiều sách. Cụ thường ngồi làm việc ở một chiếc bàn to. Cụ vừa viết sách, vừa dịch cho một bên là chị gái chép, rồi lại dịch một cuốn khác cho nhạc sĩ Hoàng Dương chép lại. Một mình cụ có thể dịch một lúc vài ba cuốn sách mà toàn những cuốn có giá trị và khó dịch như Đại Nam chính biên liệt truyện, Hán văn độc bản... Cụ mất đi ở tuổi 46 (26.8.1947) do lao lực vì làm việc quá sức. Với danh mục tác phẩm liệt kê trong Thơ văn Trúc Khê cho thấy sức lao động cần cù của nhà văn, chỉ trong 22 năm ông đã để lại trên 60 tác phẩm sáng tác và dịch thuật lớn cùng nhiều bài báo có giá trị. Nhà văn để lại cho nền văn học một tài sản đồ sộ có cả chiều rộng lẫn chiều sâu, lưu lại một dấu son trong lòng độc giả hiếu học... Sau khi cha mất, nhạc sĩ Hoàng Dương thường mang cây sáo trúc ra bên mộ thổi cho cha nghe những bản nhạc mà người cha đã yêu thích. Trúc Khê là nhân chứng biết về bài thơ "Hai sắc hoa ti gôn" Theo một nhận định dễ được cộng hưởng: Nếu không có bài thơ "Hai sắc hoa ti gôn", cuộc sống văn chương nước ta hẳn có sự thiệt thòi. Và có câu chuyện liên quan đến nhà văn Trúc Khê. Câu chuyện được ghi lại từ lời kể của nhà văn Ngọc Giao năm 1990, khi ông vào tuổi 80. ông nguyên là thư ký tòa soạn của báo "Tiểu thuyết thứ bảy": Một buổi trưa, cuối mùa thu năm 1937, ở tòa soạn báo Tiểu thuyết thứ bảy, các đồng nghiệp trong tòa soạn đã ra về, chỉ còn lại Trúc Khê Ngô Văn Triện và Ngọc Giao. Trúc Khê còn nán lại để dịch "Truyền kì mạn lục" của Nguyễn Dữ ra Quốc ngữ. Ngọc Giao đã tiến lại chỗ mắc áo để lấy mũ và ra về. Nhưng khi đó có tiếng kèn đám ma, đám tang đi qua phố Hàng Bông. Ngọc Giao là người rất sợ kèn đám ma nên mới nán lại thêm, cho xe đám đi qua đã. Đã khoác áo, đội mũ, nên ông kéo ghế ngồi tạm lại ở chỗ gần cái sọt đựng giấy vụn. Không biết điều gì xui khiến, ông đưa tay vào sọt, nhặt lên mấy tờ giấy bị vo tròn quăng vào sọt để chờ xe rác. Tẩn mẩn ông vuốt một tờ ra đọc. Đó là một tờ giấy học trò khổ nhỏ. Một bài thơ bằng nét chữ bút chì, viết nguệch ngoạc nét run, nét mờ, như thể viết ra một lần xong, gửi đi luôn cho tòa báo. Nhưng, bài thơ đã khiến Ngọc Giao rung cảm lạ thường: "Hai sắc hoa ti gôn" của T.T.Kh. Ngọc Giao bước vội đến đưa bài thơ cho Trúc Khê, yêu cầu ông đọc ngay. Trúc Khê thấy Ngọc Giao quá xúc động, cũng bỏ bút, cầm đọc bài thơ. Và ông đã cảm động, ngồi lặng đi, rồi đọc lần nữa. ông Trúc Khê vỗ tay xuống bàn, nói với Ngọc Giao: "Sao lại có bài thơ tuyệt đến thế này! ". Ngay sau đỏ, thư ký tòa soạn Ngọc Giao gọi ông cai thợ sắp chữ nhà in lên, bảo xếp chữ ngay bài thơ ấy. Và "Hai sắc hoa ti gôn" đã đi vào đời sống thơ ca nước nhà. Nhà văn Ngọc Giao còn ghi vào cuốn sổ lưu niệm của Phạm Văn Kỳ - một người bạn văn cùng thời, cũng từng làm thư ký tòa soạn báo Tiểu thuyết thứ năm. "Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh bị bỏ rơi vào sọt rác như vậy đó. Nó càng được nhiều bạn đọc nhắc đến bao nhiêu tôi càng ân hận về lỗi làm ăn cẩu thả, sơ suất bấy nhiêu. Nếu không có cái đám ma qua phố thổi kèn rầu rĩ đó, thì tôi đã đội mũ lên đầu, không cúi xuống sọt rác...thì đóa hải đường "Hai sắc hoa ti gôn" đành an phận nằm trong đó". Vì tế nhị, nhà văn Trúc Khê cũng giữ kín câu chuyện này đến khi ông qua đời… Với các bạn văn cùng thời Có một nhóm văn nghệ sĩ Nam Định chơi với nhau ngày ấy là: Nguyễn Bính, Nguyệt Hồ, Vũ Hoàng Chương, Phong Giao, Trúc Đường. Nhưng nhóm này không chỉ quan hệ bạn bè khép kín trong phạm vi một tỉnh mà họ còn chơi với nhiều văn nghệ sĩ Thủ đô và các tỉnh khác như Tô Hoài, Lê Tràng Kiều, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Anh Thơ, Ngân Giang, Nguyễn Vĩ, Hoàng Tấn, Trúc Khê, Vũ Trọng Can, Trúc Sơn, Hoàng Lập Ngôn, Trương Tửu. Hồi ấy đường sá, xe cộ khó khăn, nhưng họ tìm đến với nhau như cơm bữa. Họa sĩ Nguyệt Hồ kể rằng, ngày ấy các nhà thơ chơi với nhau lấy tài năng thi ca, tài ứng đối, tài chơi chữ để hấp dẫn nhau, quý trọng nhau nên tình bạn của họ rất bền chặt. Một lần, nhà văn Trúc Khê mời một nhóm bạn gồm Nguyễn Bính, Ngân Giang, Trần Huyền Trân về nhà mình chơi. Họ ngồi uống rượu dưới trăng bên hòn Ngô sơn tại khuôn viên của gia đình Trúc Khê. ông chủ nhà Trúc Khê ra đề tài "Đêm hội Ngô Sơn" để các bạn xướng họa: Non Ngô dưới ánh trăng rằm Duyên may hội ngộ tri âm buổi này Trần Huyền Trân liền đọc tiếp: Rượu nồng chưa nhấp đã say Nhưng tình đã thấy rót đầy lòng nhau Nguyễn Bính đọc: Chắc rằng gặp mãi nhau đâu Duyên bèo nước có bền lâu bao giờ? Ngân Giang tiếp: Tiệc này dưới ánh trắng mờ Tiệc sau e bóng người thơ lạc loài Họ cứ thế đọc tiếp thành một bài thơ dài. Và điều đáng khâm phục là giọng thơ của người nào mang phong cách riêng của người ấy... Thiên Anh This article is protected. Category: street
| ||||||||||||||||||||||